Giữ nụ cười, yêu cuộc sống

Latest

Krabi, Thailand

Reblogged from Vui trên bàn phím:

Click to visit the original post
  • Click to visit the original post
  • Click to visit the original post
  • Click to visit the original post
  • Click to visit the original post
  • Click to visit the original post
  • Click to visit the original post
  • Click to visit the original post
  • Click to visit the original post

I took a flight from Tan Son Nhat airport, Vietnam to Bangkok, Thailand and from Bangkok I took another flight to Krabi. I stayed in Krabi beach Sheraton resort. I stayed alone in the room so I felt scary when I recalled the Thailand ghost movie that I had watched before. The surroundings is very nice with beautiful landscape and filled with birdsongs.

Read more… 259 more words

Mỗi chuyến đi là mỗi bài học. May mắn khi cuộc đời cho ta có nhiều chuyến đi.

Người phụ nữ vượt lên sự mất mát

Bạn sẽ trở thành thế nào nếu một ngày nào đó tai họa và bất hạnh giáng xuống cuộc đời mình bằng sự ra đi cùa một người thân yêu nhất: cha hoặc mẹ, hoặc chồng (vợ) và con? Bạn sẽ tiếp tục cuộc sống thế nào nếu bạn là một người phụ nữ đã mất đi tất cả: lần lượt các con và cả người chồng yêu quý – trong vòng 8 năm?

Tôi nhìn chị Tiêu Thị Bông và không tin nổi chị lại có vẻ mặt bình thản, chịu đựng và khiêm nhường đến thế, sau những biến cố làm chị mất đi tất cả những người thân yêu nhất. Người ta bảo ai rồi cũng phải gặp thử thách trong cuộc đời, đó là quy luật, nhưng những gì đã xảy đến cho cuộc đời chị Bông thực sự là quá sức chịu đựng của một con người !

1. Khi tôi nhìn thấy hình bé Trương Thanh Anh Thư treo trong căn phòng rất đơn sơ của chị Bông – nơi ở của chị hiện nay trong khuôn viên của Trụ Sở Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm Địa Hạt Việt Nam – tôi mới thật sự hiểu nỗi đau của chị. Bé Thư sinh ngày 12/ 05/ 2002 và mất ngày 21/ 07/ 2005, sau khi được mổ chữa dị tật bẩm sinh của tim tại Malaysia. Thư đẹp như Thiên Thần, với lọn tóc mái dợn quăn giống hệt cha và cái miệng cong nũng nịu trông quá đáng yêu. Đây là tấm hình ghép do bệnh viện Cơ Đốc Phục Lâm Malaysia tặng cho chị. Đó là hai hình ảnh cuối cùng của Anh Thư, một ngày trước khi con bé lên bàn mổ để rồi ngủ yên mãi mãi.

“Con bé rất lanh lợi và ham nói” – Bông hồi tưởng. Khuôn mặt chị giờ đây trông bình thản, không có giọt nước mắt nào rơi trên khuôn mặt đó nhưng trong đôi mắt chị là thẳm sâu nỗi nhớ. Hình ảnh người chồng và hai đứa con gái – đứa nào cũng bụ bẫm và xinh đẹp – được lồng khung trang trọng trên kệ…như vây bọc lấy ký ức của chị.

Bé Thư là người con cuối cùng rời bỏ chị. Trước đó, chị Bông đã mất một bé trai sau khi sinh tại một trạm xá ở Đà Nẵng vào năm 1999. Năm 2000, đứa con gái đầu lòng của Bông lúc đó được 5 tuổi vì phát hiện bệnh viêm não quá trễ nên cháu cũng không qua khỏi . Nỗi đau mất hai đứa con cũng dần ngưôi ngoai trong lòng người mẹ khi Bông sinh được bé Thư vào năm 2002.

Lúc Thư được một tháng tuổi, khi đưa bé đi khám sức khỏe định kỳ, bệnh viện Từ Dũ phát hiện bé bị dị tật tim bẩm sinh. Chưa hết bàng hoàng lo lắng về bệnh tình của con, thì nửa tháng sau chồng chị phát hiện bị ung thư máu. Chữa trị xong, niềm vui tưởng chừng căn bệnh hiểm nghèo của chồng đã qua khỏi, thì hơn một năm sau, anh bị tái phát trở lại và qua đời chỉ sau ba tuần điều trị tại Trung Tâm Truyền máu Huyết học (bây giờ đổi tên thành Bệnh viện Truyền máu và Huyết học).

Tháng 07/ 2005, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng tín hữu, chị mang bé Thư sang bệnh viện Cơ Đốc Phục Lâm ở Malaysia để bé được mổ tim miễn phí. Ngày đi, bé Thư rất hớn hở vì lần đầu tiên được theo mẹ du lịch nước ngoài trên máy bay. Khi trở về, than ôi…Thư chỉ còn là một nắm tro bên trong ba lô của chị! Bông gần như đã gục ngã tại phi trường trong vòng tay bạn bè và cộng đồng tín hữu ra đón hai mẹ con chị…Bé Thư lanh lợi đáng yêu không còn là một Thiên Thần quấn quýt dưới chân của mẹ nữa !

2. “Những ngày đầu tiên sau khi bé Thư mất, tôi tưởng mình phát khùng mất !” – chị Bông nhớ lại : “Có những ngày đi trên đường nhìn thấy một bé gái trạc tuổi Thư đi ngang qua là tôi như bị hút lấy, vội vã chạy theo. Đến khi sực nhớ lại tôi không biết mình phải làm gì ? Còn đêm về, chỉ một mình trong căn phòng trống trải, tôi thật vô cùng cô đơn”.

Bông lý giải việc mình chịu đựng được sự mất mát của người thân như vậy là do tai họa đến với chị một cách từ từ. Sau cái chết đầu tiên của đứa con trai thứ hai, chị tự an ủi vẫn còn một đứa con gái xinh xắn, ngoan ngoãn và một người chồng luôn yêu thương mình. Rồi khi đứa con gái ngoan ngoãn , xinh xắn đó cũng ra đi , chị vẫn còn chồng là niềm an ủi. Khi Thư ra đời, chị đã thấy niềm vui trở lại trong ánh mắt, tiếng cười của con.

Đến khi người chồng yêu quý mất đi, chị lại nghĩ : “Mình vẫn còn bé Thư để yêu thương chăm sóc”. Nhưng, Thư cũng không ở lâu với chị và cái chết của Thư để lại một khoảng trống khủng khiếp. “Đến khi Thư mất tôi mới thấy sự bất hạnh của mình !” –Bông nói :

“Nếu không có người thân và bạn bè thì có lẽ tôi đã gục ngã mất”. Chị nhận ra rằng trong bất hạnh, chị không hề bị cô đơn, mà có sự chia sẻ. “Cuộc sống không bao giờ là bế tắc thực sự và không có khái niệm mất tất cả, một khi chúng ta có niềm tin vào Đức Chúa Trời”. Chị luôn tin tưởng rằng : “Chúa biết con đường tôi đi, khi Ngài thử rèn tôi , tôi sẽ ra như vàng. Khi chúng ta đi qua khổ đau là khi chúng ta được rèn giũa để trở thành vàng”.

Mặt khác, Bông vẫn hứng chịu những lời gièm pha của người đời. Không ít người nói sau lưng: chị là người phụ nữ “cao số”, có “bông” mà không có “trái”, phải chịu cảnh cô đơn; hoặc do “cái nghiệp” của chị kiếp trước quá nặng, kiếp này phải trả ; hoặc trong quá khứ chị đã gây nên điều gì đó tội lỗi và bây giờ bị trừng phạt! Nhưng Bông luôn xác tín : “Chúa đã cho tôi tất cả – cả chồng và cả con – và giờ đây nếu Ngài có đem họ đi thì tôi cũng phải Cảm Tạ Ngài chứ không thể oán trách !”.

Điều an ủi của chị là có chỗ dựa tinh thần nơi gia đình, bạn bè và nhất là của cộng đồng tín hữu, sau tất cả những biến cố đó. Sau khi bé Thư mất, chị Bông về quê nhà tại Đà Nẵng tìm niềm an ủi nơi mẹ và anh chị ruột. Một thời gian sau, chị trở vào TP.HCM, sống cùng gia đình chồng ở Gò Vấp trước khi quyết định trở thành một nhân viên phục vụ trong văn phòng của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm Địa Hạt Việt Nam.

Bông có niềm tin mạnh mẽ rằng cái chết thật sự chỉ giống như giấc ngủ, và sẽ có ngày chị sum họp cùng chồng và các con ở trên trời. Theo niềm tin của người theo đạo Cơ Đốc, chị không lập bàn thờ để thắp nhang cho chồng và con. Hài cốt của chồng và con được chị cất trong lọ và để trong tủ kính, bên cạnh là những tấm ảnh của họ, cùng vài món đồ chơi ưa thích của các con. Sự nhìn nhận cái chết nhẹ nhàng của tín đồ Cơ Đốc khiến chị dần nguôi ngoai, chấp nhận sự đơn độc của mình như là một sự thử thách.

3. Bảy năm dần trôi qua sau những biến cố đau thương đó. Bây giờ thì Bông hạnh phúc với những việc mình đang làm: những việc “không tên” giúp ích cho cộng đồng như dạy lũ trẻ học giáo lý – học đạo làm người và yêu thương mọi người theo lời dạy của Chúa; đi thăm viếng những người bệnh tật hoặc gặp chuyện không may; giúp bà con dân tộc ở vùng sâu, vùng xa…cải thiện cuộc sống từ việc hướng dẫn cho họ những điều thường thức cá nhân; giúp đỡ và cùng chơi với những bệnh nhi ung thư ở BV Ung Bướu… Bông hiện thời là chấp sự của Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Phú Nhuận. Và theo Mục Sư Trần Công Tấn – Chủ Tọa Thánh Đường Cơ Đốc Phục Lâm Phú Nhuận – nhận xét : “Trong cuộc đời, tôi chưa từng thấy ai gặp mất mát nhiều như chị Bông, và cái cách vui lòng chấp nhận mất mát như chị thật hiếm có. Chính sự vững vàng của chị cũng có tác dụng nâng đỡ tinh thần tôi khi nản lòng, giúp tôi có sức mạnh để vượt qua”.

Bông cho rằng mình đã tìm thấy sự hạnh phúc trong bất hạnh. Giờ đây chị cảm thấy được bình an, bình an vì mình vẫn còn có thể nhận thấy sự bất hạnh lớn hơn của người khác, và nghiệm ra sự may mắn của mình. Không ít lần, chị dừng xe lại trên đường, nhìn những người phụ nữ nửa điên, nửa tỉnh làm những việc không tự chủ được giữa chốn đông người, chị lại thầm cám ơn Chúa đã giúp chị không trở thành gánh nặng của cộng đồng.

Triết lý sống của chị thật giản dị : Đó là biết cho, trước khi biết nhận.

“Khi tôi muốn được an ủi thì tôi phải ủi an người khác. Khi tôi muốn được thương xót thì tôi phải xót thương. Khi tôi muốn được sẻ chia thi tôi phải chia sẻ. Khi tôi muốn được thăm viếng thì tôi phải viếng thăm. Khi các bạn thấy thỏa lòng với những gì mình đang có thì các bạn sẽ tìm được sự bình an. Những lần tôi được đi thăm viếng những người khổ đau và bệnh tật, tôi cảm thấy bình an và phước hạnh, vì trước mắt tôi, bên cạnh tôi còn có rất nhiều người đau khổ…”.

Công việc của chị ở Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm Địa Hạt Việt Nam hiện chỉ đem lại cho chị một mức lương vừa đủ trang trải những nhu cầu tối thiểu của bản thân. “Còn quần áo và vật dụng cá nhân, ai cho gì mặc nấy” – chị vui vẻ nói. Niềm vui sống của chị vượt ra ngoài những nhu cầu vật chất, bởi tâm linh của chị hướng đến một mục đích cao hơn là có thể làm những điều tốt nhất cho cộng đồng. Đó là cách chị tồn tại./.

Thanh Thủy

Tôi không thích những cơn mưa

Không biết tự bao giờ, tôi không thích những cơn mưa. Trời mát, nắng hanh nhẹ thì thích, nhưng mưa thì không. Khi trời mưa, nếu ở trong nhà, tôi cảm ơn trời. Còn khi đang ngoài đường, tôi chỉ muốn ba chân bốn cẳng lao về nhà thật nhanh.

Mưa luôn gợi cho tôi cảm giác bất an. Có quá nhiều kỷ niệm không đáng nhớ với những cơn mưa, nên tôi chỉ mong mưa khi mình đang ngủ. Ngủ, tức là ở một thế giới khác, ở đó không nghe thấy mưa, không cảm thấy mưa và không nhớ những gì không muốn nhớ.

Những ngày còn nhỏ, trời mưa mà ba mẹ đi làm chưa về là tôi trông đứng trông ngồi. Mấy đứa em lau nhau nghịch nước mưa, thường đòi tôi làm gì đó để ăn (chiên cơm hay luộc khoai), còn tôi lại lo lắng không biết ba mẹ đang ở đâu trong cơn mưa.  Nếu ba chở mẹ cùng đi làm thì tôi đỡ lo hơn. Nếu mẹ đi một mình, thể nào mẹ cũng về muộn hơn ba (vì mẹ không biết tự đi xe mà chỉ di chuyển bằng xe công cộng).  Chỉ cần nhìn ra ngõ,  thấy mẹ đội nón lá, quàng một tấm nylon ướt nhép, tay xách nách mang  …. cũng đủ khiến tôi luýnh quýnh, chạy ra đón mẹ mà mừng đến phát khóc.

Khi tôi vào đại học, hàng ngày phải đạp xe gần 20km từ Hóc Môn lên Sài Gòn để học, khi trở về nhà , đến cánh đồng trống gần ngã tư Hóc Môn, trời bỗng đổ mưa ào ạt. 30 năm trước,  dễ gì mua được một cái áo mưa, thế nên không biết bao nhiêu lần, tôi phải cố gắng lắm mới qua được quãng đồng trống đó. Gió từ đồng trống thổi chiếc xe nghiêng ngả,  nước mưa tạt vào mặt không nhìn thấy đường, vừa lạnh, vừa đói, khiến tôi không khỏi loạng choạng muốn té ngã.

Ngày đưa con sang Singapore chữa bệnh, mẹ con tôi đến vào đúng mùa mưa. Mưa ở đây ào ạt, dầm dề cả ngày. Ngồi trong nhà trọ nghe mưa mà buồn não người.  Có những ngày quần áo phơi chưa kịp khô, tôi phải vội vàng ủi cho vào va-li để xách đến bệnh viện. Đưa con đi trong cơn mưa và rời khỏi bệnh viện cũng trong cơn mưa, nỗi buồn tủi thật là khủng khiếp.

Những cơn mưa trong những năm gần đây ở Sài Gòn lại có sự ám ảnh khác: kẹt xe, nước ngập (có thể lọt hố bất cứ khi nào vì có nhìn thấy gì đâu), chưa kể cây đổ hay dây điện xẹt. Tôi không nhớ có bao nhiêu lần mình bị kẹt xe dưới chân cầu trong cơn mưa đùng đùng, sấm chớp liên hồi, rồi  bao nhiêu lần phải lao “mù” trong làn nước ngập bánh xe, vì không còn lối thoát nào khác. Mưa làm nỗi khốn khổ của người tham gia giao thông trên đường phố Sài Gòn tăng thêm gia vị “sợ hãi”, “bất an”!

Mỗi khi mưa, tôi thường lo không biết có ai trong số những người thân và người mình quen biết đang lội trong mưa? Cầu mong cho những người thân và bạn bè của tôi luôn an toàn trong những cơn mưa.

An toàn trong những “cơn mưa” của cuộc đời!

                                                                                                                                                                                        Gia Hương

(Bài đã đăng báo SGGP thứ bảy ngày 28.4.2012)

CHỢ chưa là Quá khứ, SIÊU THỊ chưa là Tương lai ?

Lúc tôi 10 tuổi, mẹ đã giao tiền chợ cho tôi mỗi ngày, vì bà phải đi sớm về khuya để làm người giao hàng cho các chợ trên thành phố. Cầm tiền trên tay, tôi tính toán mua đủ thức ăn hai bữa cho cả nhà rồi nhắm còn dư chút đỉnh để mua chút quà (trái cây hoặc bánh ngọt) về cho các em. Vì vậy, lũ em tôi ngày nào cũng chờ đợi chị hai đi chợ về. Tôi thường đi chợ thật nhanh, vì đã thuộc nằm lòng thực đơn mẹ ra hàng ngày : một món kho, một món canh. Có hôm tôi cũng lúng túng vì những thứ mẹ dặn ở chợ lại không có, thế là các bà bán hàng quen sẽ bày cho tôi một món ăn mới. Trong trí nhớ của tôi, ngôi chợ đã là một hình ảnh quen thuộc, nó là quá khứ, là hiện tại và có lẽ còn trong cả tương lai, dù siêu thị đang song hành cùng với nó và ngày càng phát triển. Hơn 30 năm qua, bất cứ ở đâu, tôi cũng gắn bó với một ngôi chợ ở gần nhà. Mặc dù tôi không còn đi chợ mỗi ngày, nhưng nếu có thời gian, tôi vẫn thích bắt đầu một ngày của mình bằng thói quen đi chợ.

1. Bây giờ, tôi có hai bà mẹ. Một bà mẹ ruột còn đi chợ mỗi ngày và thường từ chối vào siêu thị vì “Trong ấy lạnh và đắt lắm !”, còn một bà mẹ chồng không còn khả năng ra chợ vì bà đã ngoài 70tuổi. Vào những dịp gần Tết, mỗi khi thấy con gái và con dâu xúm nhau làm bếp, mẹ chồng tôi thường chép miệng : “Chợ Tết giờ này chắc là vui lắm !”. Những năm còn khoẻ mạnh, bà thường sắp xếp ngày nào ra chợ để mua sắm vải may quần áo mới cho cả nhà, ngày nào mua củ hành, củ kiệu , ngày nào mua khoai, bí, dừa về sên mứt, ngày nào chọn lá gói bánh chưng ? Gần như cả đời gắn liền với thói quen đi chợ, trong ký ức của bà, một ngôi chợ Tết nhộn nhịp chứa đựng biết bao sự chịu khó tần tảo của người phụ nữ : người ngồi bán cũng như người đi mua – để mái ấm gia đình luôn luôn được đầy đủ vào những ngày đầu năm. Hôm nào thấy tôi vừa đi chợ về, thế nào bà cũng hỏi thăm những người quen biết cũ ở chợ và hỏi xem giá cả các mặt hàng ra sao. Bà nhớ chợ và buồn vì mình không còn đủ sức để có thể đi xa hơn căn nhà của mình !

Với ưu thế nghề nghiệp, tôi có dịp đi mua bán ở nhiều nơi, từ những ngôi chợ đầu mối đến những ngôi chợ quận, chợ phường, chợ hẻm. Tôi cũng không xa lạ với thói quen mua bán ở siêu thị, từ những nơi mở cửa đầu tiên cách nay 7 năm như Minimart Sinhanco hay như cái mới toanh là Cora Bình Chánh, Cora Miền Đông. Chỗ nào đi qua, tôi cũng mua hàng và thích ứng rất nhanh với thói quen mới của người phụ nữ đô thị. Nhưng lạ lùng sao, tôi vẫn không bỏ được chợ, vẫn phải thường đi chợ để mua sắm đủ loại hàng hoá cho gia đình vì nhiều lý do lắm. Một phần vì sợ những người bán đã thuộc thói quen mua bán của mình trách : “Sao dạo này cô ít đi chợ ? Hôm trước có hàng ngon, đợi mãi chẳng thấy cô ?”. Một phần vì chỉ có chợ mới là nơi có đủ loại thức ăn tươi theo mùa, thậm chí các mặt hàng khác như giày dép, quần áo, vải, đồ gia dụng ..…cũng phong phú và dễ chọn lựa hơn so với siêu thị. Phần khác, vì lo ngân sách gia đình sẽ bị thâm thủng vì những lần đi siêu thị ….thường phát sinh những khoản mua sắm ngoài dự tính, do không kềm chế được trước lượng hàng hoá cứ đầy ắp và ở trong tầm tay ! Không chỉ tôi, mà nhiều người bạn khác thỉnh thoảng đi siêu thị vẫn than thở : “Chỉ tính mua vài món, không ngờ ra tính tiền thấy lên đến vài trăm ngàn đồng, giống như tiền bị … mất cắp vậy !”. Mua hàng ở chợ ít tốn tiền hơn trong siêu thị vì người ta chỉ mua những mặt hàng có chủ định. Ngôi chợ của tôi, tính ra có ….. rất nhiều. Mua thực phẩm tươi sống, trái cây – đến ngôi chợ ở gần nhà. Mua vải, đặt may drap, quần áo may sẵn, giày dép, đồ gia dụng, tôm khô, mực khô, gà sống…. đến chợ An Đông. Mua bánh kẹo, thực phẩm chế biến, đồ hộp, mỹ phẩm ….đến chợ Cũ, chợ Bến Thành. Mua xà bông, kem đánh răng, chất tẩy rửa vệ sinh… đến chợ Kim Biên, chợ Cũ. Mua nấm khô, táo tàu, thủy hải sản khô, áo mưa, dép nhựa, đồ nhựa, đồ inox ….đến chợ Bình Tây.

2. Không có nơi mua bán nào tập trung nhiều phụ nữ hơn ở chợ, từ người bán đến người mua. Phụ nữ bán hàng có từ những cô bé mười mấy tuổi đến các bà lão thâm niên ngồi chợ 40 – 50 năm, gần hết một đời người. Ở ngôi chợ nào cũng có không ít sạp chợ là nơi tiếp nối của nhiều thế hệ. Uy tín trong mua bán của người bà truyền cho người mẹ và từ người mẹ truyền cho con gái. Có những người mua bán thiệt tình, kiên nhẫn chiều khách, cũng không hiếm người cau có gắt gỏng khi khách hỏi quá nhiều mà chẳng thấy mua. Tiểu thương ngày nay cũng không chỉ là những người ít học, mua đầu chợ bán cuối chợ, mà có cả những người một thời là giáo viên hoặc là cán bộ công nhân viên trong các cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước. Họ học hỏi rất nhanh về thói quen mới của người mua và biết trưng bày hàng, biết cách tiếp thị cũng như biết cách thông tin. Họ cũng là chỗ dựa của những tiểu thương ít học, khi cần phải đấu tranh với ban quản lý chợ về một khoản lệ phí quá cao nào đó hay về một chính sách di dời không hợp lý nào của quận.

Hãn hữu mới có đàn ông bán hàng và đàn ông đi chợ. Nếu đàn ông đi chợ thường có vẻ rụt rè, kém tự tin thì những người đàn ông ngồi bán hàng ở chợ luôn có vẻ chịu đựng, ít khi mời chào hay níu kéo khách. Người bán hàng nam thường không bao giờ nói thách hay chửi khách vì họ không chịu mua hay trả giá rẻ. Ưu điểm của họ là hiểu rất rõ sản phẩm của mình bán và chịu khó giải thích hơn phụ nữ. Tôi vẫn nhớ một người đàn ông lớn tuổi bán gia vị trong chợ Bến Thành, thường hỏi cặn kẽ người mua nấu món đó cho bao nhiêu người ăn rồi tự cân lượng từng loại, lại còn hướng dẫn cách ướp thịt, cách nấu sao cho ngon. Và còn một người đàn ông bán đồ lót, bán giày dép trong chợ An Đông ; hai người đàn ông bán trái cây ở chợ Hoà Hưng ; một người đàn ông bán thực phẩm công nghệ ở chợ Cũ …. Dù người mua lần đầu hay đã thành khách quen, họ vẫn lựa chọn cho khách tận tình như nhau, không phụ thuộc vào tình cảm như người bán hàng nữ.

3. Hình ảnh đẹp nhất mà tôi thường thấy trong siêu thị là cảnh hai người yêu nhau đi sánh đôi cùng xem hàng, lựa hàng. Cụ ông xách giỏ hay đẩy xe cho cụ bà cũng thường gặp trong siêu thị. Rồi cảnh cả gia đình cùng đi với nhau : người cha bỏ đưá nhỏ ngồi trên xe đẩy, vừa lấy hàng vừa trông con ; đưá còn lại lon ton theo chân mẹ cũng lựa hàng và nài xin mẹ mua cho thứ này, thứ kia. Và đàn ông vào siêu thị thì nhiều không kém phụ nữ. Họ thường đi cả nhóm bạn, trông đầy vẻ tự tin hơn khi một mình vào chợ. Giá cả niêm yết sẵn ; cơ sở vật chất sạch sẽ, thoáng mát ; nhiều chương trình khuyến mãi do các nhà cung cấp hỗ trợ ; thời gian mở cửa đến khuya, trong khi chợ đóng cửa từ chiều ….. là một thế mạnh của siêu thị.

Một lần, có một người bạn mua một cái áo Thái Lan trong siêu thị giá hơn 100.000đ. Tôi hỏi : “Sao không mua ở chợ giá rẻ hơn ?”. Người bạn ấy trả lời : “Biết ở chợ giá rẻ hơn, nhưng chợ không có chỗ thử, chẳng biết mình mặc đẹp hay xấu. Còn trong siêu thị, tha hồ thử hết cái áo này đến cái áo kia, thấy cái nào mặc đẹp mới mua. Nếu không thích, không mua cũng chẳng bị ai …chửi !”. Một người bạn khác, cũng thường đi siêu thị Co-op Đinh Tiên Hoàng mua trái cây về cúng. Chị so sánh : “Mua ở siêu thị dễ lựa chọn hơn vì mỗi thứ chỉ mua một trái, cân bao nhiêu tính bấy nhiêu theo giá niêm yết. Còn ở chợ, người bán hay nói giá, khó trả, mua ít họ cũng không vui …”. Một lần, tôi đi mua xoài ở cửa bắc chợ Bến Thành. Người bán nói thách, tôi trả giá xong rồi lựa, nhưng người bán không cho lựa, gắt gỏng nói lựa như vậy sẽ làm hư hàng của họ. Thế là cuộc mua bán không thành. Tương tự như vậy, thật khó hỏi mua vải may áo dài ở những sạp mặt tiền cửa nam chợ Bến Thành vì nếu cần xem mặt hàng (treo ở trên cao), người bán thường nói : “Chịu giá đi rồi lấy xuống cho coi !”. Trong khi đó, nếu chịu khó vào những sạp vải nằm khuất bên trong, người bán rất kiên nhẫn chọn lựa cho khách, thậm chí còn đổi hàng nếu về nhà thấy không vừa ý ! Mua hàng ở chợ cần phải có sạp hàng quen và đôi khi chỉ mua vì tình cảm. Mua bán ở siêu thị khỏi cần quen mà chỉ cần có hiểu biết về hàng hoá và khả năng kềm chế tốt trước bao nhiêu lời mời chào hấp dẫn về mặt hàng có khuyến mãi.

4. Ngoài hoá phẩm, thực phẩm chế biến tại siêu thị là nhóm hàng có nhiều người mua nhất, do điều kiện bày bán an toàn về mặt vệ sinh hơn ở chợ. Một số siêu thị ở nội thành có dịch vụ sơ chế ngày càng hoàn hảo, giảm bớt thời gian làm bếp của người nội trợ như Cora Miền Đông, Maximark, Co-op Đinh Tiên Hoàng, Co-op Nguyễn Đình Chiểu…. Nhưng rồi, sự cố xảy ra khi một ngày tôi ỷ vào thực phẩm sơ chế của siêu thị. Khi mâm cơm dọn ra với tất cả các món đều là thực phẩm sơ chế của siêu thị thì cả nhà chẳng ai nuốt nổi vì quá mặn hoặc có quá nhiều gia vị như ớt, tiêu, bột ngọt ! Thôi đành phải chấp nhận tốn thời gian đi chợ và làm bếp để món ăn hợp khẩu vị với cả nhà và an ủi rằng đã tiết kiệm được một khoản cho ngân sách gia đình.

Điều nghịch lý xảy ra là các nhà cung cấp thường hỗ trợ chương trình khuyến mãi của siêu thị. Chủ các siêu thị hay người điều hành các siêu thị thường dành khoản chi phí giao tế đáng kể để có thông tin thường xuyên trên nhiều báo, trong khi ở chợ, tiểu thương thường ngại tiếp xúc với nhà báo, ngại thông tin. Điều nghịch lý nữa là có những quận, hệ thống chợ đóng góp đến hơn 50% ngân sách hàng năm, thuế của một ngôi chợ đầu mối có khi đến 50tỷ đồng/năm nhưng ngôi chợ ấy chưa được tái đầu tư tương xứng về cơ sở vật chất. Tiểu thương tại nhiều ngôi chợ lớn vẫn phải ngồi bán trong những sạp hàng có diện tích quá nhỏ hẹp, giữa lối đi chật chội, trong nhà lồng nóng bức … với các khoản thuế, phí và lệ phí có khi lên đến 200.000đ – 300.000đ/ngày !

5. Ngày nay, nhiều cư dân ở các nước phát triển đã quen với việc mua hàng trên mạng internet. Ở VN, hàng hoá bày bán trên mạng chưa nhiều nhưng đó cũng sẽ là một xu hướng mua sắm trong tương lai. Một anh quản lý trẻ thuộc một trung tâm thương mại sang trọng nhất thành phố – người Hàn Quốc – nói với tôi rằng Hàn Quốc hiện nay dù có nhiều siêu thị và trung tâm thương mại nhưng vẫn còn chợ, vẫn còn nhiều người thích đi chợ, họ không chỉ là những người nghèo mà có không ít những người giàu. Một người quản lý trong Sở Thương Mại kể cho tôi nghe những ngôi chợ ở những nước phát triển đang được chăm sóc để vẫn tồn tại ra sao. Còn ở VN ? Có mấy ngôi chợ mà người tiểu thương yên tâm mua bán ở sạp hàng của mình như chợ Bến Thành – khi Bến Thành được chọn là ngôi chợ truyền thống của thành phố phải được gìn giữ ? Những cơn lốc sửa chợ, xây chợ và di dời chợ….. đã đẩy không ít tiểu thương rời khỏi chợ, trở thành những kẻ mua bán lang thang đầu đường xó chợ, hoặc buộc họ vào thế phải tự “nâng cấp” thương hiệu của mình bằng cách mở shop trên đường phố hay trong các trung tâm thương mại. Bên cạnh đó, quyền sử dụng sạp chợ ở các ngôi chợ vẫn là thứ….quyền chưa rõ ràng, chưa được luật pháp thừa nhận nên mỗi ngôi chợ lại có một kiểu bán quyền sử dụng sạp chợ khác nhau !

Ngày nay, bên cạnh hệ thống chợ và siêu thị , vẫn còn hệ thống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của nhiều công ty, do đặc thù ở VN là các công ty sản xuất thường tự tổ chức thêm kênh phân phối riêng như Kymdan, Vissan, Biti’s, Bita’s , Nhật Tân, Kinh Đô, Vera, WoW, Sanding, Việt Tiến….. Khách hàng có cảm giác yên tâm về chất lượng hàng cũng như về giá cả ở những nơi này. Cửa hàng tạp phẩm cũng có mặt ở hang cùng ngõ hẻm, sẵn sàng bổ sung vào nhu cầu mua sắm của các hộ dân trong khu vực. Và còn phải kể đến xu hướng ưa thích có mọi thứ trong một nơi của trẻ em.

Con tôi không thích vào chợ. Đơn giản vì nó thích được ăn uống hay chơi vidéo game trong khi mẹ mua sắm, mà chợ thì không có vidéo game và chỗ ngồi ăn thì không thuyết phục được nó vì …dơ quá ! Vào những ngày nghỉ, nó thường nài được dẫn vào một trung tâm thương mại có đủ thứ : phải có nhiều gian hàng bán đủ loại đồ chơi, phải có khu trò chơi đa dạng, phải có nhà hàng để ăn uống …. Đối với mẹ tôi và tôi, chợ chưa là quá khứ, còn trong mắt con tôi : một đưá trẻ 11 tuổi, siêu thị – đa phần chỉ là cửa hàng tự chọn như hiện nay – phải chăng cũng chưa phải là tương lai của nó ?

Thanh Thủy

Box: Bảng thống kê Thói quen Mua sắm hiện nay :

1/ Nguồn : Saigon Co-op, thời điểm khảo sát : tháng 7/2000, kết quả có được từ cuộc phỏng vấn trực tiếp người mua sắm chính của 1.000 hộ dân, điạ chỉ cư ngụ là 12 quận nội thành của TP.HCM.

* Nơi thường mua hàng nhất : 88,87% đến chợ ; 7,71% đến siêu thị. Thị phần của chợ 78% , siêu thị 14%.

* Số lần mua hàng/tháng : ở chợ là 27 lần ; cửa hàng tạp phẩm gần nhà 11,5lần ; cửa hàng bách hoá là 4,4 lần ; siêu thị là 2,7lần. Mức chi mua hàng/lần ở chợ là 43.000đ, ở cửa hàng tạp hoá là 16.600đ, cửa hàng bách hoá là 103.000đ và ở siêu thị là 161.000đ.

* Nhóm hàng thường mua nhất ở chợ : Thực phẩm tươi sống, đồ dùng gia đình, sản phẩm dệt may, nhu yếu phẩm, hoá phẩm.

* Nhóm hàng thường mua nhất ở siêu thị : hoá phẩm, sản phẩm dệt may, thực phẩm công nghiệp, đồ dùng vệ sinh công nghiệp, mỹ phẩm.

2/Nguồn : Công ty nghiên cứu thị trường X tại VN, thời điểm khảo sát : tháng 11/2000, tại 4 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM, Cần Thơ. Số người được phỏng vấn được phân thành 4 loại, căn cứ vào mức thu nhập từ dưới một triệu đồng – 10triệu đồng/tháng. Nền dữ liệu : phần trăm/tổng dân số.

* CHỢ (Market Stall) : Là nơi mua sắm mỗi ngày vì có 41,5% chọn chợ (trong đó, Cần Thơ có tỷ lệ dân số chọn chợ để mua sắm mỗi ngày cao nhất : 44% và thấp nhất là TP.HCM với tỷ lệ là 40,3%) . Tỷ lệ đi chợ từ hai – ba lần/tuần 8,2% ; một lần/tuần 5% ; từ một – hai lần/tháng 5,1% và tỷ lệ không bao giờ đến chợ 14,5% (trong đó, Cần Thơ có tỷ lệ người không bao giờ đến chợ thấp nhất : 4,8% và TP.HCM có tỷ lệ cao nhất : 18,8%).

* CỬA HÀNG TẠP PHẨM (Grocery Store) : Tỷ lệ mua sắm mỗi ngày 8,9% ; hai – ba lần/tuần 15,5% ; một lần/tuần 10% ; từ một – hai lần/tháng 12,5% ; không bao giờ mua sắm 16,4%.

* CỬA HÀNG BÁCH HOÁ (General Store) : Tỷ lệ mua sắm mỗi ngày 0,6% ; từ hai – ba lần/tuần 3,1% ; một lần/tuần 3,6% ; từ một – hai lần/tháng là 6,8% ; không bao giờ mua sắm 44,2%.

* SIÊU THỊ (Supermarket) : Tỷ lệ mua sắm mỗi ngày 0,1% (TP.HCM có tỷ lệ mua sắm mỗi ngày ở siêu thị lớn nhất : 0,2%) ; từ hai – ba lần/tuần 1,8% ; một lần/tuần 4,5% (TP.HCM có tỷ lệ mua sắm một lần/tuần ở siêu thị lớn nhất : 6,7%) ; từ một – hai lần/tháng 17,3% (TP.HCM cũng chiếm tỷ lệ cao nhất : 25,5%) ; không bao giờ mua sắm 39,1% (Cần Thơ có tỷ lệ không bao giờ mua sắm ở siêu thị cao nhất : 71,1%).

 

(Viết vào tháng 9/2001 và đã đăng trên báo Xuân Sài Gòn Tiếp Thị năm 2002)

Mua và bán…tinh trùng

Lời nói đầu: Bài viết này đã được thực hiện cách nay 8 năm. Thế nhưng, hoạt động mua bán tinh trùng (chui) vẫn rất nhộn nhịp. Chỉ cần gõ từ khóa “bán tinh trùng”, Google cho ra  21.400.000 kết quả, với nhiều địa chỉ từ Hà Nội đến TP HCM, chứng tỏ nhu cầu có con của nhiều người rất lớn, họ đã bất chấp hậu quả. Có nên có con theo cách này? 

 Một bác sĩ trẻ trong phim “Bệnh viện Đa Khoa” (Hàn Quốc) đã phải quả quyết với bạn bè rằng “Tôi còn là trai tân” khi họ nghi ngờ anh có quan hệ với mẹ của một đưá bé mới đưa vào bệnh viện vì nó “giống hệt” anh. Và rồi anh chợt nhớ ra….khi còn là sinh viên y khoa đã có lần hiến tặng “tinh trùng” cho “ngân hàng tinh trùng” và có lẽ đưá con của người phụ nữ xa lạ kia được tạo thành từ một trong những “tinh trùng” của anh. Những người bạn đồng nghiệp của anh cũng xôn xao nhớ lại – ai cũng có lần hiến tặng tinh trùng – vậy bây giờ những “tinh trùng” đó đang phiêu lưu nơi đâu ? Đó là câu chuyện ở xứ người, và tôi bỗng giật mình khi có một người bạn mách bảo : “Có một địa chỉ ở thành phố này đang mua và bán…tinh trùng” !

TÔI ĐI BÁN …TINH TRÙNG

Vào một buổi tối đầu tháng 6, tôi điện thoại đến phòng mạch tư của một bác sĩ sản phụ khoa và nói với anh là tôi nghe một người bạn giới thiệu chỗ anh có mua tinh trùng. Anh hỏi tôi : “Để làm gì ?”. Tôi bảo là mình có nhu cầu. Anh hỏi lại tôi : “Anh muốn cung cấp, hay….?”. Tôi trả lời : “Muốn cung cấp”. Anh hỏi tôi ở đâu, có vợ con chưa ? Tôi trả lời : “Có rồi, một đứa con”. Anh dè dặt nói : “Cái đó bây giờ người ta cấm”. Tôi bảo, ngoài tôi và anh thì có ai biết đâu mà sợ ? Anh cho biết : “Những cặp vợ chồng không có con được vì nguyên nhân ông chồng, họ muốn có con thì mình giúp người ta, nhưng bây giờ bị cấm nên tôi đâu có nhận bệnh nhân”. Tôi gút lại : “Nói thật, tôi muốn bán và cần biết anh có mua hay không, một số đưá bạn tôi cũng muốn…bán”. Lập tức, anh ta hỏi số điện thoại của tôi và cho biết khi nào có người cần anh ta sẽ kêu. “Có nghĩa là vì không có người cần nên anh không mua?”- tôi hỏi và anh ta nói : “Tại vì lâu nay không tìm được người tốt. Nếu mua tùm lum thì bệnh, tội nghiệp người ta”. “Nhưng tôi bán như vậy có phải chịu trách nhiệm gì không ?”. “Đâu ai biết được ai”. “Có nghĩa là tôi sẽ không biết “cái của mình” được dùng cho ai và ngược lại ?. “Đúng rồi !”. “Việc lấy tinh trùng làm như thế nào, có đau không ?”. “Bình thường thôi, giống như ngày xưa, khi chưa có vợ, mình cho “nó” tự ra…”. “Còn giá cả ?”. “Khoảng 100.000đ – 150.000đ/lần”. Câu chuyện kết thúc tại đây và vị bác sĩ đó không quên nhắn nhủ nếu có người cần anh sẽ gọi tôi…

Một tuần sau, tôi gọi lại cho vị bác sĩ này và bảo rằng tôi không muốn bán mà sẽ “cho” người nào cần. Hơn nữa, tôi cần gặp anh để trao đổi cụ thể về cách lấy, cũng như cho anh xem “tướng tá” của tôi có đạt yêu cầu hay không ? (dù dáng vóc của tôi thuộc loại thấp bé). Đúng hẹn, tôi có mặt tại phòng mạch riêng của anh ta. Câu đầu tiên anh ta nói nếu có kết quả thì “người ta” sẽ bồi dưỡng lớn cho tôi. Tôi nói với anh là tôi không nghĩ đến thù lao, mà chỉ quan tâm đến việc đảm bảo an toàn cho tôi cũng như an toàn cho người sử dụng. Anh ta chỉ tôi tự cho “nó” vào một cái lọ được khử trùng bằng nước sôi, sau đó đem chiếc lọ ấy đến đứng ở một đầu đường nào đó, anh ta sẽ ra lấy – với lý do là để người cho và người nhận không biết mặt nhau. “Nhưng như thế có đảm bảo là tinh trùng sẽ còn sống ?”. Anh ta quả quyết : “Được, trong vòng 40 – 45 phút thì vẫn tốt”. Tôi đặt vấn đề : “Nếu tôi không tự lấy được ?”. Anh ta nói : “Thường thì người ta tự lấy, nhưng nếu không được thì phải mượn người”. Phải là người phụ nữ ? Anh thừa nhận là đúng và nói dùng họ để kích thích. Tôi hỏi “Kích thích bằng cách nào ? Có phải như người ta sinh hoạt vợ chồng ?”. Không trả lời trực tiếp câu hỏi của tôi nhưng như chợt nhớ ra yêu cầu ban đầu của tôi là phải đảm bảo “tuyệt đối an toàn” nên anh ta trớ qua : “Nhưng như thế sẽ không đảm bảo an toàn”. Tôi hỏi tiếp : “Làm sao biết được cái của tôi…đảm bảo tốt, không có hại cho người ta ?”. Anh ta nói : “Chắc là tốt thôi, khỏe mạnh mà !”. Tôi gặng hỏi làm sao chắc thì anh ta nói sẽ lấy một giọt để kiểm tra….(?). Sau đó, anh ta hỏi lại tôi một lần nữa là tôi có con chưa ? Tôi trả lời “Có” (thực sự là chưa). Anh ta cho biết : “Cách đây hai ngày có hai vợ chồng đến. Họ cho biết “Tiền bạc không thành vấn đề, miễn là có kết quả” , chừng nào họ quay lại, tôi báo tin cho anh ngay !”. Cuối cùng, vị bác sĩ dặn tôi là chỉ nên tự “cho ra” mỗi tháng hai lần thôi !

CÒN TÔI, ĐI MUA ……

Trong vai một phụ nữ đau khổ vì trông ngóng đã lâu mà không có con, vào một buổi chiều cuối tuần giữa tháng 6, tôi cũng giống như những người phụ nữ chờ đợi khám bệnh tại phòng mạch của vị bác sĩ nọ. Một cô gái khoảng 30tuổi tâm sự với tôi là cô lấy chồng hơn một năm rồi nhưng chưa có con nên có đi khám một vị bác sĩ gần nhà. Bà ấy chữa trị cho cô một tháng vẫn không có kết quả nên giới thiệu cô đến đây. Một cặp vợ chồng khác đầy vẻ căng thẳng đang chờ đợi kết quả ….. thử thai, vì bà vợ đã trễ kinh vài ngày. Một phụ nữ trung niên tự giới thiệu là người phụ trách “xét nghiệm” tại phòng mạch này nói nhỏ với tôi : “Đó là người đã …mua tinh trùng của người khác vì ông chồng không có tinh trùng”. Chị ta an ủi tôi đừng lo sợ chuyện không có con vì nếu tôi khoẻ mạnh, vẫn có cách thụ thai khi bác sĩ “bơm” tinh trùng của người khác vào người tôi. Đó là cách tại đây vẫn làm nếu tinh trùng của ông chồng không đủ “sức”, theo chị ta “quảng cáo” thì cách này cho kết quả nhanh, giá rẻ và chẳng mất công chờ đợi. Chị ta “tiết lộ” với tôi là “Tùy theo cơ thể của từng người, có người bơm một lần đã thụ thai, nhưng cũng có người phải bơm đến…9 lần !”. Khi tôi lo sợ về “hậu quả” có thể xảy ra khi mang thai với tinh trùng của người xa lạ thì chị ta trấn an tôi : “Ở đây chỉ lấy tinh trùng của người khỏe mạnh. Thực ra, mang thai như vậy cũng giống như con của mình, đa số trường hợp sinh ra đều giống người vợ vì trứng của họ mà !” (?)

Vị bác sĩ – một người đàn ông tuổi ngoài 40 – khá dè dặt khi tôi đặt vấn đề. Ong ta bảo tôi phải mang chồng đến đây, để ông ta “điều trị tối đa” dùm cho tôi. Theo như ông nói, phải lấy tinh trùng của chồng nhiều lần, sau đó lọc rửa để chọn những con khoẻ mạnh nhất . Bản thân tôi, trước đó phải đi siêu âm xem ngày nào trứng rụng và đúng ngày đó đến đây (hoặc đến bệnh viện – nơi ông ta làm việc) để ông ta “bơm” tinh trùng vào âm đạo. Trường hợp xấu nhất – nếu có sự đồng ý của chồng, ông ta sẽ mua tinh trùng của một người khoẻ mạnh và “bơm” cho tôi. Nếu một lần “bơm” không đạt thì “bơm” hai lần, giá khoảng 1.000.000đ/lần “bơm”, chưa kể tiền thuốc. Ong ta phân trần lấy giá đó vì phải “bồi dưỡng” cho người bán, phải cho họ đi xét nghiệm, phải lọc rửa tinh trùng. Ong ta cũng giới thiệu “nguồn mua tinh trùng” là những sinh viên y khoa, hoàn cảnh khó khăn, nhưng “đảm bảo an toàn” vì họ chỉ lo học, không biết “ăn chơi”. Hơn thế nữa, ông còn tự quảng cáo rằng mình đã 10 năm kinh nghiệm chữa trị vô sinh, năm 99 đã giúp cho 100 cặp vợ chồng vô sinh có con, trong đó có những cặp vợ chồng đứng trước nguy cơ “chồng lớn tuổi, vợ sắp đến tuổi mãn kinh” – đã chấp nhận việc thụ thai với tinh trùng của người lạ. Ông còn cho tôi xem ảnh thôi nôi của những đứa trẻ được sinh ra theo cách đó và nói cha mẹ chúng đã gửi cho ông để cảm ơn….

Hơn ba giờ đồng hồ tại phòng mạch này, tôi đã nhìn thấy khát vọng có con của nhiều cặp vợ chồng, và trước yêu cầu của họ, ông bác sĩ này không bỏ lỡ cơ hội đáp ứng dù biết rằng “Nhà nước chưa cho phép thành lập ngân hàng tinh trùng”. Một mặt, ông nói với tôi “Cách đó bệnh viện chưa được phép làm”, mặt khác ông cũng tự hào tiết lộ về những thành quả của mình. Khi tôi biết được người đồng nghiệp của mình không khó khăn gì (nghĩa là chẳng cần xét nghiệm) cũng bán được ….tinh trùng, tôi thật tình lo sợ cho những đứa bé sinh ra … trước khi “Ngân hàng tinh trùng” được chính thức thành lập ở VN với những tiêu chuẩn chọn lựa người cho tinh trùng hết sức khắc khe. Có bao nhiêu phòng mạch tư đang tham gia vào dịch vụ “mua bán” hết sức nhạy cảm này ? Và tại sao đến bây giờ Bộ Y tế vẫn chưa cho phép thành lập “Ngân hàng tinh trùng” ở VN ?

 

Box: VIỆC BƠM “TINH TRÙNG TƯƠI” HẾT SỨC NGUY HIỂM !

* B.S. TRƯƠNG XUÂN LIỄU – GĐ Sở Y tế TP. HCM :
“Từ năm 1995, bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã làm đề án thành lập “Ngân hàng tinh trùng” với những quy định hết sức chặt chẽ trình cho Bộ Y tế nhưng đến nay vẫn chưa được phép làm. Theo tôi, việc thành lập ngân hàng tinh trùng hết sức cần thiết, nhằm đáp ứng nguyện vọng của nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn có nguyên nhân từ người chồng. Nhưng trong vấn đề này, ngành y tế thận trọng là cần thiết vì việc này cần phải được đảm bảo bởi một cơ sở pháp lý vững chắc, tránh những hệ quả về sau. Vấn đề thụ thai với tinh trùng của người lạ sẽ xảy ra nhiều hệ quả tai hại nếu không chọn lựa kỹ người cho, nhất là việc bơm “tinh trùng tươi” hết sức nguy hiểm. Theo nguyên tắc, tinh trùng trước khi bơm phải được thử HIV hai lần (lần đầu khi mới cho và lần thứ hai vào 6tháng sau) , chưa kể phải làm những xét nghiệm bệnh lý khác. Hiện nay, khi Nhà nước chưa có chủ trương, các phòng mạch tư không được phép làm…”.

* B.S. PHẠM VIỆT THANH – Phó GĐ Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ và B.S. HỒ MẠNH TƯỜNG – Phó trưởng khoa Hiếm muộn thuộc bệnh viện Phu SảnTừ Dũ :

“Chúng tôi hiện đang bế tắc trước những trường hợp hiếm muộn bởi hai nguyên nhân sau : người vợ không có trứng ; người chồng không có tinh trùng. Ở các nước phát triển, từ lâu họ đã có “Ngân hàng tinh trùng” và “Ngân hàng phôi” để cung cấp tinh trùng và trứng khoẻ mạnh cho những cặp vợ chồng có yêu cầu. Với những nơi đang thực hiện dịch vụ mua bán tinh trùng dù chưa được phép, đáng lo ngại nhất là người cho không được chọn lựa theo những tiêu chuẩn quy định (như dáng vóc, chiều cao, học lực, không mắc bệnh truyền nhiễm) và phải được xét nghiệm HIV và viêm gan siêu vi B. Việc bơm tinh trùng tươi nguy hiểm lắm vì trong tinh dịch lẫn nhiều thứ, kể cả vi trùng gây bệnh. Cần phải lọc rửa tinh trùng để chỉ chọn những tinh trùng khoẻ mạnh, tinh khiết và việc bơm chỉ nên thực hiện vào thời gian 6 tháng sau khi lấy tinh trùng (khi thử HIV lần 2 với kết quả âm tính). Khi chưa có một ngân hàng tinh trùng với những tinh trùng được chọn lựa và bảo quản trong điều kiện tốt nhất thì không nên tham gia vào dịch vụ này….”.

*TIÊU CHUẨN CHỌN NGƯỜI CHO TINH TRÙNG (trích đề cương nghiên cứu “Thành lập Ngân hàng tinh trùng tại Việt Nam” của ba tác giả : B.S. Nguyễn Thị Ngọc Phượng, B.S. Phạm Việt Thanh, B.S. Hồ Mạnh Tường)

1/ Tiêu chuẩn chọn : – sức khoẻ tốt, không có các bệnh lý di truyền, không có dị tật bẩm sinh ; – tuổi từ 18 – 40 ; – trình độ học vấn : tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên ; – ưu tiên những người đã có con ; – không phải là nhân viên của ngân hàng tinh trùng ; – bác sĩ bơm tinh trùng cho người nhận không được cho tinh trùng.

2/ Các biện pháp tầm soát : a/ về tinh dịch phải đạt các yêu cầu về thể tích, di động (trên 50%), mật độ (trên 50triệu tinh trùng/ml), hình dạng (trên 30% có dạng bình thường), tỷ lệ sống sau khi trữ lạnh (trên 50%) ; b/ về bệnh lý di truyền : khi khám tổng quát và hỏi tiền căn gia đình nếu có nguy cơ về di truyền phải làm nhiễm sắc thể đồ ; c/ về bệnh sử : không có bệnh lý di truyền và bệnh lý mang tính chất gia đình, không đồng tính luyến ái, không sử dụng ma túy, không quan hệ tình dục với nhiều người, không phạm pháp, không có tiền căn giang mai, lậu trong vòng 12 tháng gần đây, không thuộc nhóm nguy cơ lây nhiễm HIV cao.

3/ Khám tổng quát

4/ Sử dụng mẫu thử : Mẫu thử chỉ được sử dụng sau lần thử HIV thứ hai âm tính, 6 tháng sau khi gửi mẫu thử để đảm bảo an toàn cho người nhận mẫu.

5/ Các xét nghiệm CLS : – xét nghiệm huyết thanh giang mai, viêm gan siêu vi B, HIV ; – thử lại HIV lần 2 sau 6 tháng.

Thanh Thủy – Minh Nhật

(Bài đã đăng trên báo Phụ Nữ TP HCM tháng 12/2004)

Sống phập phồng

Suốt một ngày 1.4.2012, chủ đề được bàn tán rôm rả nhất trên các trang mạng xã hội là bão và mưa ở Sài Gòn: phần đông đều cầu mong bình an cho mọi người, nhất là những người dân đang ở trong tâm bão. Tình hình có vẻ căng thẳng từ 6h chiều trở đi, khi mưa không ngừng tạnh và gió giật càng lúc càng mạnh: có người xót ruột lo lắng vì có một người thân đang ở ngoài đường; có người kể chuyện vừa vượt qua cơn mưa khó khăn thế nào để về nhà….  May hôm đó là ngày chủ nhật và cũng trùng với ngày lễ, nhiều bạn đã đi chơi xa hoặc ở nhà, không ra đường, chứ nếu không tình hình còn tồi tệ hơn.

Một cô bạn nhà ở Thủ Đức, có việc phải qua cầu Sài Gòn lúc 4h chiều, đến hơn 5h chiều trở về thì hầu như không qua nổi cầu vì gió giật dữ dội. Bạn kể: Nhiều người cùng đi xe máy phải tụ tập lại để rủ nhau cùng qua một lúc, vì sợ gió sẽ thổi bay cả xe xuống sông nếu qua một mình. Dù đi với tốc độ rất chậm để ghì xe lại, nhưng tất cả những tấm thảm dưới các sàn xe tay ga đều bị bay hết. Khung cảnh lúc đó thiệt hỗn loạn, ai cũng mong qua được cầu, chẳng còn nhớ nổi đã đi qua bằng cách nào nữa. Một anh bạn khác rời khỏi cơ quan ở quận 3 lúc hơn 9h tối nhưng mãi gần một tiếng sau mới “bò về” đến nhà (từ anh dùng) ở quận 11, vì những con đường anh vẫn thường đi đều bị chặn vì cây cối đổ ngổn ngang. “Trời tối đen vì cúp điện, tôi phải mò trong đêm tối, chỉ dám để số 1 chạy cho thiệt chậm mong cản được sức gió, nếu không té xe như chơi! Đi trong đêm mưa bão thế này mới thấy số phận con người mỏng manh quá, nếu mình bị té xe, bị cây đè hay lọt hố cũng chẳng biết kêu ai”.

“Không biết kêu ai” – cũng là tâm trạng của tôi, khi rời khỏi cơ quan lúc hơn 6h chiều mà mãi đến gần 8h mới đón được một chiếc taxi. Đứng trong cơn mưa, một tay tôi cố gọi điện thoại đến các tổng đài taxi, một tay ghì cái dù  trong khi gió chực chờ giật  bay mất. Mọi chiếc xe taxi chạy ngang qua  góc ngã tư Ngô Thời Nhiệm – Lê Quý Đôn đều đầy người, các tổng đài taxi đều bận máy. Các con đường đều vắng tanh và tối om, không có đến một chiếc xe ôm. Khi gần như tuyệt vọng, tôi  nhìn thấy một chiếc taxi 7 chỗ của hãng Phương Trang tấp lại. Người tài xế đã đề nghị tôi tìm một con đường khác, tránh đường Đinh Tiên Hoàng hay Pasteur vì những chỗ đó đang bị kẹt xe và cây đổ nhiều lắm. May mà tôi gặp một người tài xế tử tế, thuộc một hãng xe đàng hoàng, chứ bạn tôi đã phải lên một xe taxi dù (có số đuôi 27 nhái Vinasun, không có số tài) và phải trả đắt gấp 3 lần cho một đoạn đường quen thuộc vẫn thường đi.

Sống ở một thành phố lớn nhất nước – nơi mà dân tỉnh vẫn nườm nượp đổ về trong các khu công nghiệp và mong có ngày trở thành công dân chính thức, tôi luôn có những điều phập phồng lo sợ. Chẳng hạn như ra khỏi nhà sáng 1.4, tôi chỉ biết bão có thể “rớt” ngang qua Cần Giờ, chứ không hề biết là gió có thể giật mạnh đến mức mọi con đường trong nội thành đều trở nên tê liệt, khiến mình có thể phải lang thang ngoài đường nếu không kiếm được taxi. Cô bạn tôi bảo nếu biết bão rớt vào ngay thành phố, có thể cô đã ở nhà và không cần phải qua cầu Sài Gòn làm gì, khiến cho mọi người trong nhà cô đều đứng ngồi không yên vào giờ đó.

Thử làm một cuộc khảo sát nho nhỏ với 10 người phụ nữ vẫn thường gặp hàng ngày: “Điều gì làm bạn ngán ngại nhất trong cuộc sống đô thị hiện nay”,  tôi thấy ngay đáp án: kẹt xe, chất lượng thực phẩm-y tế-giáo dục, môi trường ô nhiễm và …gánh nặng của các loại giá và phí.

Họ hỏi tôi: Bây giờ sống sao phập phồng quá. Lương không đủ sống (kể ra có lương cũng là mừng, bởi với tình hình kinh tế thế này – lãi suất ngân hàng quá cao, sản xuất đình đốn, sức mua thấp – sợ sẽ đến ngày …bị nợ lương hoặc mất luôn việc) mà giá mọi thứ đều tăng, chưa kể sắp tới còn phải đóng những loại phí để lưu thông trên đường nữa. Có cô em hỏi tôi: Với thu nhập gần 4 triệu đồng một tháng, tiền sữa và tiền gửi con ở nhà trẻ hàng tháng đã hết hơn phân nửa rồi, nếu xe máy phải đóng phí thì em mua xe đạp điện để chạy. Mà xe đạp điện có phải đóng phí giao thông không chị? – đúng câu ông bà ta vẫn nói “nghe mà cười ra nước mắt”!

Gõ từ khóa “phí giao thông” trên trang điện tử sgtt.vn, ra 57 kết quả, bài cũ nhất đăng ngày 10.1.2012 và bài mới nhất đăng ngày 2.4.2012. Gõ từ khóa “phí giao thông đường bộ” trên trang Google, ra  5.250.000 kết quả. Sôi sục từ đầu năm 2012 đến nay, đây là loại phí được người dân bàn luận nhiều nhất. Số lượng bạn đọc phản hồi vấn đề này gửi về báo SGTT hàng tuần luôn đạt mức kỷ lục so với những vấn đề khác. Trời ơi, nếu ông bộ trưởng giao thông đoan chắc: Đóng phí này xong các đô thị sẽ hết kẹt xe, đường phố sẽ an toàn thì chắc mọi người sẽ đóng ngay thôi, khỏi băn khoăn hay thắc mắc.

Vấn đề là dù phải oằn vai cõng các thứ phí này (sau khi đã mệt mỏi vì sự trượt giá quá nhanh của đồng tiền, khiến cuộc sống ngày càng thấp) nhưng nỗi bất an về đời sống đô thị vẫn còn đó ông ơi!

Thảo My

(Đã đăng báo SGTT sáng 4.4.2012)

 

Thành công làm gì nếu không có hạnh phúc?

Ông là một luật sư tư vấn cho nhiều công ty tên tuổi và được nhiều doanh nhân trong cũng như ngoài nước nhắc đến với sự kính trọng. Gặp ông lần đầu tiên trong buổi họp cuối năm của một doanh nghiệp, tôi không khỏi giật mình: Ông đó sao ? Một tên tuổi nổi tiếng trong giới luật sư, tác giả của những bài báo về kinh tế lẫn xã hội rất sâu sắc, dí dỏm, lại chỉ cao khoảng…1,5m vì cái bướu đè nặng sau lưng. Nhưng đáp trả sự bối rối của tôi là một thái độ tự nhiên và rất tự tin của ông. Thân thiện, dễ mến – là ấn tượng đầu tiên tôi nhận thấy ở ông, và càng nói chuyện nhiều với ông, tôi càng hiểu ra, vì sao ông hay đề cao tính nhân văn trong các doanh nghiệp đến thế…Ông tên Nguyễn Ngọc Bích, luật sư tại văn phòng luật DC Law tại TP. Hồ Chi Minh.

Nghe nói cuộc đời ông có một đoạn rất thú vị ?

Năm 1972, sau khi đã học xong cử nhân Luật ở Saigon, tôi được học bổng sang Mỹ học thạc sĩ luật tại đại học Harvard. Đầu năm 1974, tôi là luật sư tập sự trong văn phòng của bà Tăng Thị Thành Trai và ông Tạ Văn Tài, tổ chức theo kiểu Mỹ và chuyên tư vấn cho các công ty dầu khí hoạt động tại Miền Nam. Năm 1975, văn phòng đóng cửa, mọi người ra đi. Tôi quyết định ở lại vì nghĩ chế độ mới tốt hơn chế độ cũ, và khi đã ở nước ngoài rồi thì dễ nẩy sinh lòng yêu nước. Tôi vào làm việc ở Tổng cục Dầu hoả và Khoáng sản được nửa tháng thì giải phóng. Tháng 4/1976, tôi bị đi học tập cải tạo vì trong lý lịch khai đã học ở Harvard và trước đó có làm cho Mỹ. Lý lịch ấy khiến tôi bị nghi ngờ là nhân viên CIA. 12 năm tròn học tập ở Chí Hoà và Bình Long (Sông Bé). Thoạt đầu, không biết ngày về, chẳng thấy tương lai, tôi chỉ hồi tưởng lại quá khứ và lương tâm tự nhiên phán xét những việc mình đã làm; nhờ đó, tôi khám phá ra một bí mật về đạo đức. Nếu bạn vì yêu mà đã không phản ứng lại khi bị người tình gây đau khổ; sau này khi bị rơi vào hòan cảnh cùng cực mà nhớ lại chuyện kia thì cảm xúc đau đớn – xin nhấn mạnh cảm xúc – sẽ tái hiện nguyên xi trên thân thể mình và nó làm ta thấy hoàn cảnh khó chịu mình đang chịu trở thành không đến nỗi nào. “Phúc cho kẻ chịu khóc lóc, vì sẽ được an ủi” Thánh kinh nói thế. Nhờ vậy mình không còn bị vướng bận về hoàn cảnh nữa, đầu óc mới sáng suốt để biết nên làm gì trong hòan cảnh ấy. Và tôi đã nghĩ: “Số phận đã đưa tôi vào đây, vậy tôi phải lấy lại được cái gì từ nó.” Trong trại cải tạo có nhiều sách báo và được khuyến khích học tập; tôi lợi dụng những phương tiện ấy cùng với thời gian “suốt năm nhàn như ba ngày Tết” (thời kỳ chưa đi lao động) để học về các chế độ chính trị, về con người trong hòan cảnh không danh, không lợi, và về chính mình. Năm 1988, tôi được về, hơn 40 tuổi mà suy nghĩ đã già dặn như người 70. Đó là một khoảng thời gian hữu ích. Tôi cũng không ân hận gì về quyết định ở lại của mình, vì khi ấy tôi còn mẹ và em phải chăm lo và tôi đã không chạy đi, bỏ rơi họ.

Có lúc nào ông thấy hối hận vì mình đã khai lý lịch quá trung thực?

Không, người đã nói dối thì 10 năm sau thế nào cũng sẽ bị bể. Còn tôi nói thật thì 10 năm sau vẫn thế thôi. Nếu bạn hay nói dối, bạn sẽ nghĩ ai cũng dối như bạn; bạn mất đi sự hồn nhiên, rơi vào trạng thái nghi ngờ người khác, và sẽ đoán sai ý định của người khác.

Vì sao ông không ra nước ngoài sau khi học tập cải tạo xong ?

Lúc đó, tôi có hai chọn lựa : một là đi, hai là ở. Tâm trạng tôi rất lưỡng lự. Đi thì tôi không ham, nhưng ở lại tôi cũng không chắc. May lúc đó là thời mới mở cửa, xã hội rất cần những người hiểu biết về kinh tế thị trường. Cái “nhãn” Harvard đã hại tôi xưa, bây giờ giúp tôi! Hai tháng sau khi về nhà, công ty Bình Tiên thuê tôi phụ trách pháp lý. Sau đó, tôi gia nhập nhóm ông Nguyễn Xuân Oánh, rồi Nhóm Thứ Sáu …đi giảng về kinh tế thị trường ở nhiều cơ quan và nhiều tỉnh. Đầu năm 1989, ông thày dạy tôi ở Harvard sang Việt Nam, tôi hỏi ý kiến ông, ông khuyên tôi nên ở lại, vì luật lệ ở Việt Nam rồi cũng sẽ phát triển như Trung Quốc và sẽ rất cần những người như tôi. Tôi ở lại, không băn khoăn gì nữa! Tôi lập gia đình vì trước đó đã được người cháu giới thiệu cho một cô giáo dạy mầm non. Tôi rút kinh nghiệm từ những ngày học tập, một người vợ đẹp chưa chắc đã đảm, muốn vợ đảm thì đừng đòi đẹp. Điều quan trọng nhất là vợ tôi không đòi đi nước ngoài.

Ông thường giúp các công ty VN về vấn đề nào ?

Tôi giúp họ trong những vấn đề họ gặp khi kinh doanh, trong các giao dịch có yếu tố nước ngoài và về quản trị. Tôi đề nghị cách thức để họ thực hiện những thương vụ đó một cách êm thắm, nếu có tranh chấp thì không thua. Việc họ cần nhiều bây giờ là về quản trị, về cơ cấu tổ chức và cơ chế điều hành. Công ty ta thường bị rối những vấn đề này. Khi phát triển lên to, dễ mất kiểm soát. Hiện nay 50% khách hàng của tôi là các công ty Việt Nam, hầu hết là những công ty tên tuổi, đang làm ăn với nước ngoài.

Vì sao lúc nào ông cũng đề cao tính nhân văn trong công ty ?

Trong công ty có hai phần chính là công việc và con người. Con người là nền tảng cho công việc, nên cách người ta đối xử với nhau rất quan trọng. Đề cao cách thức con người cư xử với nhau là cách làm cho công việc được hòan thành nhanh và rẻ.

Ngoài luật, đạo đức cá nhân là vấn đề ông rất quan tâm, vì sao vậy ?

Năm 1994, viết bài đăng trên báo chí tôi nêu vấn đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế là đạo đức cá nhân; bởi trước đó tôi thấy người ta ít tôn trọng lời hứa. Nền kinh tế thị trường kiểu gì thì cũng chỉ hoạt động được trên nền tảng đạo đức cá nhân. Mỗi người tự mình phải biết kiềm chế mình. Nền kinh tế của ta đang phát triển nhưng vấn đề đạo đức cá nhân chưa được coi trọng. Khi xem xét đạo đức cá nhân thì tôi thấy nó bị tác động bởi giáo dục. Do đó, tôi đi vào giáo dục. Tôi nhìn ra nền tảng của việc giáo dục ở ta; nó là thế nào, tại sao như thế. Đi sâu vào giáo dục tôi thấy nó bị ảnh hưởng bởi gia đình. Tôi bèn đi vào vấn đề gia đình. Từ kinh nghiệm cá nhân tôi nhận ra sự quan trọng của các bà mẹ. Cho hạnh phúc của gia đình và cho sự phát triển của xã hội vai trò của các bà mẹ rất quan trọng. Các ông chồng cần phải nhận ra vai trò quan trọng của vợ mình để biết quý vợ. Khi biết mình được quý – ngòai yêu – các bà sẽ hết lòng chăm sóc chồng con và sẽ thấy mình … ở trên bình đẳng!

Lâu nay xã hội mình chú trọng nhiều đạo đức nghề nghiệp mà ít xây dựng đạo đức cá nhân – tức là cách cư xử giữa con người bình thường với nhau. Muốn thay đổi điều này phải thay đổi cách giáo dục, bắt đầu từ gia đình, cốt tủy là bà mẹ. Xã hội hiện nay là xã hội trọng vật chất; người ta quan tâm đến việc một người có bao nhiêu tiền nhưng không để ý đến cách thức họ kiếm tiền. Trong khi đó, ở các nước phát triển, người ta coi trọng người có tiền nhưng xét nét cách họ kiếm tiền và người ta chú trọng xây dựng đạo đức cá nhân từ khi con cái còn nhỏ.

Có mối liên hệ nào giữa nghề nghiệp của ông và đạo đức, giữa đạo đức và gia đình ?

“Ông chủ” của luật sư là tiền! Vì ai cũng cần tiền để sống. Thân chủ chọn luật sư và trả tiền cho họ; nhưng luật sư cần tiền thì mới cần thân chủ. Do đó luật sư có quyền lựa chọn: anh cần nhiều hay ít tiền; nếu cần ít thì “ông chủ” của anh nhỏ và ngược lại. Vậy “ông chủ” kia bị tuỳ thuộc vào sự tự kiềm chế – hay đạo đức – của người luật sư. Nếu đạo đức cá nhân tốt, người luật sư sẽ giúp ích cho nhiều người khác. Nghề luật mở rộng là nhờ kinh tế phát triển. Kinh tế phát triển phải có nền tảng là đạo đức cá nhân. Đạo đức cá nhân duy trì được là nhờ giáo dục. Giáo dục tốt là nhờ gia đình. Gia đình tử tế là nhờ bà vợ. Phải có thời gian để mọi người trong gia đình săn sóc nhau; cho bố dạy con giúp mẹ, mẹ dạy con kính bố.

Gia đình ông thế nào ?

Tôi cân bằng giữa thời gian và tiền bạc, không chăm chú đi kiếm tiền lắm để dành thời gian cho gia đình. Mình phải sống lương thiện để làm gương cho con. Cái khó của việc dạy con bây giờ là phải trả lời câu hỏi của con: “ Sao họ ác mà sống sướng thế?” hay “Lương thiện để làm gì?”. Và làm sao để con không bị bạn bè xấu lôi kéo. Tôi có hai đứa con, con gái đầu 16 tuổi và con trai 11, đều đang học trường phổ thông trung học của Việt Nam. Đi đâu người ta cứ ngỡ “ông nội chở cháu”! Tôi dạy con chỉ cần hơn người khác cái trán thôi, đừng hơn nhiều quá. Vợ chồng tôi không tìm sự thành công của mình qua con cái, không đem con để khoe. Chúng tôi tạo cho con phương tiện và chỉ dẫn để nó tự vươn lên. Vợ tôi từ khi mang thai đứa con đầu đã ở nhà “trông chồng nuôi con”. Lúc đó cô ấy đạp xe đi dạy, còn tôi có chiếc Cub cánh én – mua được bằng tiền của ông thầy cho. Tôi nói: “Anh đủ sức lo cho em, có bầu mà đi làm cực lắm.” Vì tôi đã có một quan niệm về gia đình rồi nên mọi việc suông sẻ. Vợ tôi rất hiền nhưng không tháo vát lắm. Tôi đi làm có cảm xúc gì cũng kể cho cô ấy nghe, thích cô nào cũng kể luôn. Chung thủy là nói thật! Chúng tôi có được sự cảm thông và tin cậy lẫn nhau. Trong nhà, vợ tôi là cô giáo, tôi là hiệu trưởng. Cô giáo dạy con, lo cho con, còn hiệu trưởng chỉ để “hù” con. Gia đình tôi chỉ thuộc tầng lớp trung lưu bậc cao, chưa giàu. Tôi kiểm sóat được “ông chủ” của mình; biết thế nào là đủ để còn thì giờ làm những việc khác giúp ích cho cộng đồng, như ra sách, viết báo, nói chuyện ở các trường, các hội. Tay phải của tôi là công việc luật, tay trái là gia đình và cộng đồng. Một ngày tôi chỉ làm việc tối đa 8 – 9 giờ, còn lại là chơi với vợ con và làm công việc mình thích. Cuối tuần, gia đình tôi thường về cái vườn nhỏ ở Củ Chi để nghỉ ngơi và làm công việc của một nông dân. Tôi muốn dạy cho con biết phụ giúp mẹ trong công việc nhà, nhìn cuộc sống thiếu thốn của các bạn nhỏ hàng xóm để biết được là mình có đủ và biết quý cái đó hầu biết tự giới hạn mình. Hạnh phúc là được sống theo ước vọng của mình, và đóng góp cho việc chung. Tôi không đi tìm sự giàu có, bởi đã từng ở cạnh người giàu có và biết cuối đời họ ra sao.

Có phải phong cách thân thiện, gần gũi của ông hiện nay là do những bất hạnh trong quá khứ ?

Trong thời gian học tập cải tạo, tôi khám phá ra sự phù du của một số giá trị trong cuộc sống mà người ta theo đuổi. Khi cán bộ cho anh nói, anh mới được nói, vậy anh chẳng là cái gì cả. Tôi nhận ra giá trị của người khác đối với mình. Trước đó tôi cũng kênh kiệu vì nghĩ mình giỏi. Khi vào tù, tôi mới bị té! Càng sống, tôi càng củng cố niềm tin là trong mọi hoàn cảnh phải giữ cho tâm hồn mình thanh thản, muốn vậy phải đàng hoàng và đầu tiên là đừng nói dối, nghĩa là cởi mở. Tôi biết mình là một người hạnh phúc chứ không phải là một người thành công. Hạnh phúc hơn thành công chứ, bởi thành công làm gì nếu không có hạnh phúc ?

Ngoài niềm tin trên tôi đã rút ra được hai triết lý. Thứ nhất, khi bắt tay làm một việc gì ta không thể biết nó sẽ thành công hay thất bại; vì thành ngày hôm nay có thể là bại ngày mai! Nhưng ta biết rõ một điều là việc ấy có đạo đức không, tức là có làm lợi cho người khác không. Nếu là đạo đức thì cứ làm dù người ta có giận mình. Tất nhiên làm thì phải khéo léo. Cái này thời gian sẽ dậy. Thấy người khác sai thì phải nói, nói một cách tế nhị; chứ không phải vì tế nhị mà không nói; ấy là sợ cho mình.

Thứ hai, sống là biết chấp nhận thực tế; khi chấp nhận rồi thì phải thích nghi với nó và sau đó giải thích nó theo sự mong muốn của mình. Vậy là có hạnh phúc. Con chim ở trong lồng mà bắt cái lồng phải vuông hay tròn theo ý mình thì vô lý! Khi đã chấp nhận cái lồng vuông rồi thì sẽ lên tiếng để sửa cái lồng.

Xin lỗi ông vì câu hỏi này: Có phải tật ở lưng khiến ông buộc mình phải giỏi hơn những người khác? Có lúc nào ông cảm thấy kém tự tin ?

Tật ở lưng không không thúc đẩy mình phải trở nên giỏi hơn những người khác. Thực ra, mình không biết mình có tật cho đến khi bị chế giễu hay bị loại bỏ (không ai cho anh gù đi diễu hành cả!). Khi bị như vậy thì lòng đau đớn; tình cảm trong con người mình nó từ từ bị xẹp đi. Mình bị chỉ vào mặt là xấu; nên không dám làm điều gì xấu để mình xấu hơn đi. Lúc còn trẻ thì có sự lầm lẫn giữa “xấu về hình thể” và “xấu về tính tình”. Điều này làm mình tự ti, không dám tham dự vào chỗ đông, khiêu vũ chẳng hạn. Tôi không biết thế có phải là mất tự tin hay không. Nếu ngại đám đông là sự mất tự tin thì đó là sự mất tự tin. Tôi chỉ biết là mình không đẹp trai nên tránh chường mặt ra để khỏi bị chế giễu. Khi tình cảm bị teo đi như thế thì lý trí phát triển mạnh bù lại để tạo ra sự cân bằng trong tâm lý. Lý trí cho mình nghị lực, nhờ đó làm việc có nguyên tắc, có nói có, không nói không, biết đúng biết sai – và quan trọng nhất – là dám nhận khi mình sai. Đây là yếu tố giúp thành công khi ra đời và sẽ được người tốt giúp đỡ. Học xong tú tài tôi phải đi làm ngay, nhưng du học được là nhờ như vậy. Thứ nữa, lý trí giúp mình làm việc có phương pháp, biết đào sâu, tìm ra cái gốc của vấn để. Lý trí không cho mình một khả năng quan sát nhanh, nhưng nó giúp mình biết phân tích và tổng hợp sự việc rành rẽ. Nhờ đó mình khác người ta, chứ không phải giỏi hơn.

Xin cám ơn ông vì cuộc trò chuyện thú vị này.

XUÂN 2007
THANH THỦY thực hiện

(Đã đăng báo Xuân Phụ Nữ năm 2007)

Tôi coi trọng nhất việc mở rộng tầm mắt và kiến thức cho con

Đầu đinh, dáng vóc cân đối và cao lớn, ăn mặc lịch lãm, Nguyễn Ngọc Lân là một doanh nhân trẻ thành đạt, “nhẵn mặt” tại nhiều trung tâm thương mại sang trọng tại TP.HCM như Diamond, Parkson, Saigòn Centre vì là chủ đầu tư gian hàng mỹ phẩm Thann và Harnn. Tuy xuất xứ từ Thái Lan, Thann và Harnn được xếp vào hàng top, một lọai mỹ phẩm “Well-being” – đem đến cho người sử dụng cảm giác hài lòng và dễ chịu vì có xuất xứ từ các lọai hoa lá và nông sản châu Á, một xu hướng quay trở về thiên nhiên đang thịnh hành. Dưới sự điều hành của Lân, Thann và Harnn trở thành nhãn hiệu tin dùng của những khách hàng có mức thu nhập trung lưu trở nên, kể cả giới doanh nhân. Đặc biệt, từ khi anh đầu tư hệ thống spa cao cấp mang tên “Thann Sanctuary” ở khu căn hộ Nguyễn Du Park Villas. Trẻ trung, thành đạt, nhưng Lân không thuộc hàng đại gia chơi nổi. Một buổi sáng gặp anh tại sân tập golf Him Lam, cứ tưởng anh đến đó để chơi golf, ai ngờ đó là nơi đặt văn phòng làm việc. Anh xòe tay cho tôi xem : Không đồng hồ hàng hiệu, điện thọai cũng thuộc lọai “cùi” mấy trăm ngàn đồng, không xe máy, không xe hơi, nhà cũng đi thuê… “Tôi tự tin vì biết mình là ai !” – Lân cười rất tự tin.

* PV : Người ta thường bảo dân Việt kiều không thành công ở nước ngòai mới về VN làm việc. Trường hợp của Lân thì sao ?

* NGUYỄN NGỌC LÂN : Ai nói như vậy cũng chẳng sao.

Tôi sống ở Úc từ năm 10 tuổi, học ĐH xong, tôi sang Cali học business. Sau đó làm một năm bên Mỹ. Tôi đến và ở lại đây rất tình cờ. Năm 1995, khi đang trên đường về Úc, tôi ghé VN chơi 1 tháng, không ngờ ở lại làm việc đến bây giờ. Lúc đó không khí đầu tư ở VN rất nhộn nhịp, khác nhiều với cuộc sống ở Úc hay Mỹ. Nó có những đặc điểm riêng rất thú vị, đó là sự nhộn nhịp của một nước đang phát triển. Lúc đó tôi chưa nhìn thấy cơ hội cho mình, nhưng có một công việc tự đến : tập đòan quản lý quốc tế IMG đang quản lý hai sân Golf ở Phan Thiết và Đà Lạt, muốn mở văn phòng đại diện của họ ở TP.HCM. Tôi đồng ý làm cho họ. Sau đó, cùng với một người bạn bên công ty Sơn Kim, tôi lập công ty Buss, chuyên sản xuất đồ lót nam. Lúc đó thị trường toàn hàng chợ, chưa có hàng hiệu. Làm được 9 tháng, tôi sang Mỹ, ký hợp đồng sản xuất và phân phối đồ lót Jockey ở VN. Jockey thành công rất nhanh, vì không ai cạnh tranh. Hướng đi đó đã rất đúng. Cuối 2006, tôi bán lại công ty này và lập công ty cổ phần Thiên Nhiên, phân phối độc quyền mỹ phẩm Thann và Harnn của Thái Lan tại đây. Bây giờ, tôi đã tạo ra dòng sản phẩm riêng bán cho các khách sạn, resort, spa….tiêu chuẩn 4- 5sao.

Nói thật là ở VN, tôi thấy hứng thú. Cuộc sống của tôi rất cân bằng. Sáng dậy lúc nào tôi cũng trông đợi có gì mới, công việc ở đây hấp dẫn tôi, thế thôi, ai nói sao cũng được.

Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẽ ở đây luôn.

* Bằng việc mở cửa hàng ở những nơi sang trọng, dường như anh đã “phù phép” biến Thann và Harnn trở thành lọai mỹ phẩm cao cấp quá chất lượng Thái Lan của nó ?

- Không phải đâu. Đây là lọai mỹ phẩm đắt nhất ở Thái Lan và là nhãn hiệu duy nhất đi quốc tế được. Giá của nó đắt 100% so với các sản phẩm cùng lọai ở Thái Lan. Ở thị trường VN, Thann và Harnn rẻ hơn L’Occitan từ 20 – 30%. Tất nhiên, giá bán ở đây cao hơn Thái Lan từ 15% – 20%, nhưng thấp hơn những thị trường khác như Singapore , Nhật và châu Âu.

Dĩ nhiên, cách phân phối đã định vị đây là sản phẩm cao cấp và định vị thành công nhưng không hề đi quá chất lượng của nó.

Ví dụ nói về spa, dù Thann Sanctuary ở Nguyễn Du mở được hơn một tháng, các tạp chí ở nước ngòai cũng công nhận đây là một spa cao cấp ở Saigòn. Spa của tôi có cả phòng tắm ngòai trời, đâu phải chỗ nào cũng có ? Không khí ở đó rất tốt để tắm. Cách bài trí hợp lý, sang trọng, đem lại cảm giác thư giãn nhưng không mắc tiền. Quan trọng là ý tưởng thiết kế.

Doanh số nhãn hàng Thann và Harnn cũng tạm được. Sự tăng trưởng OK. Vì tôi bắt đúng xu hướng của thế giới. Không khí ngày càng ô nhiễm, thì mọi người càng quan tâm bảo vệ môi trường, quan tâm đến việc làm cho cuộc sống tốt hơn, đó là sức khỏe. Đâu phải tự nhiên các khách sạn 5 sao hiện nay suốt ngày quảng cáo : bảo vệ môi trường, dùng xà bông thiên nhiên ? Khi khả năng kiếm tiền nhiều hơn, họ sẽ đòi hỏi một cách sống khác : vừa thỏa mãn bản thân, vừa bảo vệ môi trường. Mọi người sẽ hướng về thiên nhiên nhiều hơn, qua việc chọn lựa thực phẩm hay mỹ phẩm. Đó là lý do để các sản phẩm Well-Being ra đời.

Xu hướng này sẽ phát triển mạnh trong tương lai. Ở Việt Nam và nhiều nước khác, L’Occitan là số 1 trong lĩnh vực hàng Well-being. Nhưng, Thann và Harnn có phong cách riêng và có hương vị châu Á. Harnn cổ điển, Thann hiện đại. Khách quen của chúng tôi đều đã từng dùng những sản phẩm cao cấp nhiều năm và bây giờ muốn chuyển qua dùng hàng thiên nhiên.

* Thiên nhiên? Thật sự là như vậy chứ ? Lân có sử dụng nó ?

Cả nhà tôi cùng xài sản phẩm do công ty phân phối chứ không chỉ riêng tôi. Tỷ lệ thành phần chiết xuất từ tự nhiên tùy theo từng sản phẩm nhưng Harnn và Thann là một trong những nhãn hiệu có phần trăm thiên nhiên cao nhất trong ngành này.

Sản phẩm này chủ yếu gia công, không có nhà máy riêng.

Một nhà máy mà Thann và Harnn gia công sản phẩm có thể sản xuất cho nhiều nhãn hiệu khác, sự copy chất lượng là không khó, nhưng để có một dịch vụ khách hàng khác biệt và hòan hảo thì không thể bắt chước được.

* Sự khác biệt đó là gì ?

Cái phân biệt giữa sản phẩm này với sản phẩm khác là customer experience. Khách hàng có enjoy với việc vào cửa hàng hay không? Họ ở trong cửa hàng bao lâu ? Họ phải ở càng lâu thì mới hiệu quả. Nhắm mắt lại thì thật khó phân biệt mùi này của nhãn hiệu này và mùi kia của nhãn hiệu kia. Chất lượng sản phẩm của nhiều nhãn hiệu cuối cùng cũng gần như nhau. Nhưng bắt chước về cách phục vụ thì rất khó. Không chỉ là tốt mà phải tốt như thế nào để khách hàng nhớ. Cái tốt đôi khi không nằm ở chất lượng sản phẩm mà nằm ở phong cách phục vụ.

Cái gì liên quan đến con người khó lắm. Khi bán dịch vụ, đào tạo con người cư xử với khách hàng rất quan trọng. Quản lý spa khó hơn quản lý khách sạn nữa. Thời gian massage trung bình 60 phút, đó là thời gian rất ngắn, phải làm sao cho hòan hảo.

Slogan của công ty là “we bring you a great customer experience”.

* Công ty của Lân đã làm thế nào ?

Phải bắt đầu từ top lãnh đạo. Những cái policy (chính sách, cách xử sự) mà mình đưa ra phải dẫn đến kết quả như vậy. Muốn có môi trường như vậy, chúng tôi tuyển người không cần phải có kinh nghiệm mà có tính cách. Cửa hàng trưởng rất quan trọng. Phải chọn được người có tính cách ảnh hưởng đến tất cả nhân viên. Những tiêu chuẩn thưởng của mình căn cứ theo đó . Không phải chỉ doanh số cao là được thưởng. Cửa hàng trưởng sẽ chọn ra một nhân viên biết sáng tạo trong công việc, không chỉ dừng lại ở trách nhiệm bán tại cửa hàng. Chẳng hạn như nếu hết hàng bán cho khách, cô nhân viên ấy sẽ sẵn sàng lấy hàng trong kho và giao tận nhà cho khách. Những câu chuyện như vậy sẽ được kể lại trong công ty. Và nhân viên đến sau sẽ hiểu hành động nào sẽ được thưởng. Đó mới chính là văn hóa công ty. Tôi quan niệm không chỉ bán nhiều mới tốt, mới đủ, mà còn đòi hỏi cao hơn điều đó nữa.

Thiêt kế các cửa hàng của chúng tôi cố tình mở, không phải là cái bẫy để khách hàng phải sập. Nhân viên được dạy không được níu kéo khách, cố làm cho khách mua cho bằng được, mà phải để cho khách thật sự thỏai mái trong cửa hàng.

Bằng những cách đó, chúng tôi nhận được khá nhiều lời khen từ phía khách hàng đối với cách phục vụ của nhân viên. Tôi cho đó là điều quan trọng nhất.
* Lân có thấy rằng mình đang rất thành công ?

- Vừa thôi, không có gì để khoe về công việc.

* Lân phân chia thời gian thế nào ?

6h sáng thức dậy ở Phú Mỹ Hưng. 7h sáng có mặt ở Park Hyatt để tập thể dục. Đều đặn 5ngày/tuần. 8h hơn đến văn phòng công ty ở sân tập golf Him Lam. 6h chiều tôi về The Manor tập thể dục. Một tuần hai lần tôi tập boxing.

Cuối tuần, vào buổi sáng tôi thường đạp xe đạp từ Phú Mỹ Hưng ra miền tây để vận động. Phần lớn thời gian cuối tuần, tôi dắt hai đứa nhỏ đi vòng vòng, đi biển và thăm các resort khá nhiều.

* Cách mà Lân giảm stress?

Bằng cách chơi với hai đứa con trai sinh đôi mới 4tuổi. Có những tuần, tôi dắt một đứa đi chơi bằng xe lửa. Tuần sau sẽ dắt đứa kia đi với lộ trình giống như vậy. Khi mới hai tuổi, tôi đã dẫn chúng đi du lịch Sapa, qua các bản làng…Các con tôi đã đi khắp VN.

Tài sản mắc tiền nhất của tôi là bộ chơi golf 1.500USD do người bạn ở báo Golf & Life cho. Tôi không có xe hơi hay xe máy. Tôi coi trọng nhất là việc mở rộng kiến thức và tầm mắt cho các con. Các con tôi mới 3tháng đã cho đi biển 2 tuần. Có bao nhiêu tiền là tôi để dành dẫn các con đi khám phá những vùng đất khác nhau của VN và thế giới. Một năm tôi về Úc 3 lần. Bố mẹ tôi hiện sống ở Úc.

Bố mẹ tôi không phải nhà kinh doanh. Mẹ là dược sĩ, bố trước là hiệu trưởng của trường TTKT Phú Thọ. Chúng tôi sống bình thường. Bố mẹ dạy con cách sống hòa nhập với xã hội, không cần phô trương. Ở Úc đi học mặc quần cũ là bình thường. Tôi tự tin vì biết mình là ai, không cần trang bị thêm vật chất bên ngòai làm cho mình tự tin hơn ! Đó chỉ là một cách sống khác, miễn là mình cảm thấy vui vẻ, hài lòng.

Cách giáo dục của ba mẹ khiến chúng tôi không bị ảnh hưởng bởi thói đua đòi. Tôi không có chút xíu áp lực là phải giống người khác. Nhà tôi ở Phú Mỹ Hưng, thuộc khu nghèo nhất ở đó. Tôi không bị ai ép phải làm giống như mọi người, giống xã hội. Và tôi muốn dạy con giống như vậy.

Có thể gia đình tôi cũng ảnh hưởng bởi lối sống của người Úc. Họ rất thực tế, không quan tâm nhiều lắm về hàng hiệu hay những gì khoe ra bên ngòai. Giới trẻ Úc làm ra nhiều tiền nhưng không phải mua xe mới, mà để dành tiền đi du lịch, để mở tầm mắt. Mỗi người có suy nghĩ khác nhau, nhưng đó là sự chọn lựa của người Úc. Bạn bè ở Úc không chọn nhau để được điều gì về quyền lợi. MATE : đó là nghĩa bạn ở Úc. Ở VN hiện nay thì khác, có xu hướng người ta chọn bạn để cùng làm ăn, cùng có lợi. Hết lợi thì hết bạn.

* Sống ở VN, điều gì về mặt xã hội khiến Lân tự hào hoặc băn khoăn ?

- Đang có một tầng lớp trẻ VN năng động và giỏi, thế hệ trên 30 – 40, kiến thức và tiếng Anh giỏi, học hỏi rất nhanh. Họ đã từng làm cho các tập đòan lớn của thế giới tại VN. VN sẽ thành công vì lớp người này. Nhưng chắc chắn là không đủ, nếu VN chỉ thành công về mặt kinh tế.

Điều quan tâm của tôi là sức khỏe cộng đồng. Chúng ta đang làm đủ mọi cách để bảo vệ sức khỏe. Nhưng chất lượng thực phẩm thì ngòai tầm tay. Không biết cái nào là sạch, cái nào là tốt. Bất lực. Ngòai tầm tay. Cái đó mới là quan trọng. Vì mình không biết mình đang ăn cái gì, đang hít cái gì trong không khí. Làm giàu làm gì để sau này bệnh ? Kinh tế phát triển làm gì mà mấy thế hệ sau phải trả vì môi trường bị phá họai ?

Nước nào cũng có những vấn đề của nó. Nhưng VN có điều này làm tôi băn khoăn nhất. Sau này chi phí về y tế sẽ gấp không biết bao nhiêu lần nữa ! Không bắt đầu từ bây giờ, về sau sẽ không có chi phí nào trả nổi. Tất nhiên, để giải quyết tận gốc phải có sự hưởng ứng của tòan xã hội.

Một băn khoăn khác. VN có rất nhiều luật, nhưng ra luật mà không biết là người ta có thể chấp hành luật đó hay không ? Hoặc kiểm sóat việc thi hành luật đó như thế nào trong thực tế !

* Truyền thông cũng là lĩnh vực Lân quan tâm ? Nghe nói công ty đang sở hữu hai trang web ?

Đúng. Công ty đang sở hữu hai trang web : http://spasvietnam.com
và http://findvietnamresorts.com với hơn 90% resort ở VN là thành viên.

Tôi mở trang web được ba năm, được nhiều người biết đến. Tôi chỉ muốn tập trung thông tin của hai lãnh vực thuộc ngành du lịch mà khách nước ngòai rất quan tâm.

Đối với khách du lịch cái gì là quan trọng ? Ở nước ngòai, họ sẽ lên internet để tìm thông tin, nghiên cứu về du lịch trên internet chiếm 76% so báo chí 47%.

Trước khi đi du lịch ở đâu, người ta thường qua các giai đọan : Dream – plan – book – visit – dream again.

Trong giai đọan dream, người ta sẽ tìm hiểu hình ảnh nơi định đến qua internet ; khi đã plan, người ta cần tìm hiểu thông tin giá cả của điểm đến và có thể booking được qua internet.

Một website tốt cho biết : giá cả rõ ràng, so sánh được dịch vụ chỗ này hay chỗ kia, phải có khuyến mãi…

Hiện nay là thời đại Web 2.0 : cho phép người đã đến điểm du lịch đó nói lên ý kiến của mình . Nếu anh không làm tốt thì khách hàng sẽ muốn viết về điều đó, chứ không chỉ có phần quảng cáo của chính những resort hay khu du lịch đó.

Bất cứ một khách hàng nào trên thế giới cũng có thể tìm hiểu các điểm đến ở VN. Tuy nhiên, chúng tôi sống vì quảng cáo của các resort – vừa đủ nuôi dưỡng website – chứ chưa làm được online booking. Năm sau, tôi sẽ tiến đến việc cho họ booking qua website.

Du lịch là một trong những ngành rất lớn ở VN những chưa có ai tập hợp được thông tin tập trung về resort và spa ở VN. Hai trang web của tôi được Google đưa lên top đầu của việc tìm kiếm spa. Đây cũng là cái cớ để tôi đi du lịch nhiều.

Cũng năm sau chúng tôi sẽ mở ra dịch vụ kết nối người có đất và dự án resort với các nhà đầu tư trên website www.findvietnamresorts.com

* Cảm ơn Lân vì cuộc trò chuyện rất thú vị.

Thanh Thủy (thực hiện)

(Đã đăng báo Doanh Nhân Saigon, khoảng năm 2008)

Của bền hơn người, báu làm gì?

Thỉnh thoảng, sử dụng vài món đồ mà mẹ để lại, tôi thường chua chát hỏi: “Sao mày bền thế, bền hơn người?”.

Sau khi mẹ mất khoảng hơn một tháng, một buổi sáng thức dậy trên cái giường của mẹ, tình cờ lúc cuốn màn, tôi nhìn thấy cái lược của mẹ nằm dưới chiếu. Đó là cái lược bằng sừng trâu lên nước màu ngà rất đẹp mà tôi đã tặng mẹ nhiều năm rồi. Khi trở thành nhà báo, một thú vui của tôi là mua sắm quà cho mẹ và những người thân. Trong những chuyến đi khảo sát thực tế thị trường, tôi học được nhiều bài học, trong đó có việc biết lược sừng là loại lược tốt nhất dành cho tóc. Mẹ tôi luôn để tóc dài, bà thích chải tóc bằng chiếc lược sừng đó. Thế nhưng, vì bà thích cái lược đó, bà cho rằng nó có giá trị nên mỗi lần đi đâu ra khỏi nhà, bà không bao giờ mang theo. Trong những tháng cuối cùng của mẹ, bà thường phải vào bệnh viện điều trị giảm đau. Tôi vẫn thường chải tóc cho mẹ trong những ngày đó nhưng không bao giờ tìm thấy cái lược sừng trong túi xách của mẹ. Luôn luôn chỉ là cái lược nhựa màu đen giá vài ngàn. Khi hỏi thì bà bảo bà sợ mang vào bệnh viện sẽ bị mất.
Và không chỉ có cái lược. Trong cái tủ của bà, còn rất nhiều những thứ quà tặng khác của tôi mà bà ít khi (hoặc chưa) sử dụng: cái khăn vuông đội đầu 100% tơ tằm màu xanh pha vàng nâu rất đẹp, cái ví da, những xấp vải còn mới nguyên, cái áo dài bằng lụa tơ tằm Thượng Hải, chuỗi ngọc trai…Mẹ của tôi, bà luôn luôn tiết kiệm đến mức dè sẻn ngay với bản thân mình, chỉ vì bà đã từng có một tuổi thơ nghèo khó và vất vả. Tất cả những thứ đồ đạc đã từng sử dụng qua, dù đã có đồ mới thay thế, bà vẫn cất giữ như một báu vật, chứ không bao giờ chịu bán rẻ hay tặng cho ai. Bà có một nhà kho chứa những vật dụng cũ, trong đó có cả những cuốn tạp chí, sách, truyện tranh…mà các con và cháu mang về. Khi bà kêu người bán ve chai, thì họ thật khó thương lượng được với bà.

Tôi hoàn toàn khác với bà. Tôi chỉ giữ lại vài kỷ vật có liên quan đến một đoạn đời nào đó của mình hoặc vài quà tặng của bạn quý, còn lại cái gì không dùng đến hoặc không thích hợp với tôi (dù còn mới nguyên) tôi cũng đem chia hết, đó cũng là một thú vui. Từ hơn 10 năm trước, gian bếp của tôi có đầy đủ máy móc hỗ trợ như lò vi ba (kiêm nướng), máy đánh trứng, máy xay đa năng, thậm chí cả máy vắt cam, máy xay đá. Bây giờ thì những thứ đó ở nhà người khác rồi, tôi ngán ngẩm khi phải mang nó về nhà mới không phải vì nó đã cũ mà đơn giản chỉ vì thấy không cần nữa. Khi nhìn những vật dụng nhà bếp mới đẹp đẽ, tiện nghi hơn quảng cáo mỗi ngày, tôi thờ ơ và không bao giờ nghĩ đến việc mua chúng. Ngay cả khi cái ấm điện thường sử dụng bị hỏng, tôi cũng không nghĩ đến việc sắm cái mới, thế mà việc làm bếp của tôi cũng OK, chả có làm sao cả.

Một đứa anh họ của Misa, khi 18 tuổi đã tiếc nuối nói với Misa như thế này: “Ngày còn bé, có đồ chơi mới anh đều cất đi để ngắm chứ không bao giờ chơi, Misa đừng giống anh”. Khỏi cần nói, Misa và Ben đều tháo ngay món đồ chơi mới mua khi về nhà và háo hức khám phá ngay, chứ không bao giờ cất vào tủ để ngắm giống ông anh họ. Thằng bé đó có một tủ kính đầy ắp những món đồ chơi …chưa bao giờ chơi. Vì tiếc của, hắn cũng không cho thằng em họ nào được rờ đến hay chơi cùng. Khi lớn lên, đủ hiểu biết để tiếc nuối, hắn cũng không đem cho ai. Yêu của cải đã thành một tính cách của gia đình hắn. Mẹ hắn, dù rất giàu có, vào cuối thập niên 80 khi cho em trai mượn chiếc xe Honda để đi chơi cùng bạn gái đã lồng lên vì sợ mất xe khi thằng em vi vu đến nửa đêm mới bò về nhà. Dù gia đình hắn ở biệt thự, bà ngoại hắn vẫn sử dụng những cái chậu nhựa xỉn màu và cáu bẩn, những chiếc nồi gang…. mua từ mấy chục năm trước, không đếm xỉa gì đến việc sử dụng chúng có an toàn và vệ sinh không nữa. Đó không phải là tiết kiệm, mà là sự yêu quý của cải đến mức không rời bỏ được nó.

Vốn tính rộng rãi (và có phần hoang phí – như mẹ tôi vẫn thường mắng), thế mà sau khi mẹ mất, mỗi lần định mua cái gì đó, tôi luôn nhớ đến mẹ và tự hỏi đi hỏi lại: Mình có thật sự cần thiết có nó không? Đem nó về nhà để ở đâu? Tôi đâm ra tiết kiệm hơn và không còn “những cơn điên mua sắm” như trước đây. Khi đã thích một cái áo hay cái quần (hoặc vì nó gắn bó với kỷ niệm nào đấy) thì dù nó cũ mèm, hết thời trang, thậm chí còn bị vá, tôi cũng không ngại mặc. Mặt khác, cách hành xử của tôi với đồ đạc cũng đổi khác sau khi Ben mất. Trước kia, mỗi lần sắm sửa cái gì mới, tôi thường có mục đích dành cho một dịp nào đó, đúng dịp mới lấy ra xài. Thế nhưng, nay tôi bắt chước Ben, không bao giờ để dành thứ gì mới mua nữa: quần áo mới, giày mới, chén dĩa mới…mua về là dùng ngay, không có dịp thì …tạo ra dịp. Tôi cũng không nâng niu bất cứ thứ đồ đạc nào nữa. Chiếc xe máy tôi đi mỗi ngày bị bong tróc, trầy trụa do nhiều lần…bị té ngã nhưng tôi cũng kệ, chả bao giờ nghĩ đến việc đánh bóng, miễn nó phải sạch sẽ, luôn đầy xăng và không hư hỏng đèn/thắng/kèn là OK. Tôi nhìn tất cả đồ dùng và của cải như một phương tiện, cần thiết thì phải dùng chứ không quý báu lo sợ việc hỏng hóc hay trầy trụa, bong tróc, bởi tôi biết, sau khi tôi đã tan thành tro bụi thì những thứ của cải này vẫn còn sống bền vững!

Một đời ta, ba đời nó, báu làm gì?

Thanh Thủy

(Tháng 3/2012)

(Bài đã đăng trên SGGP thứ 7 ra ngày 5.5.2012)

Nghĩ về khoảng cách giữa những người phụ nữ

TP. HCM có bao nhiêu người nghèo ? Con số này thật khó nói cho chính xác. Tại cuộc họp chiều 1/3/2004 ở Sở Lao Động Thương Binh và xã hội, lãnh đạo thành phố đã thống nhất điều chỉnh mức chuẩn nghèo từ 3triệu đồng/người/năm lên 6triệu đồng/người/năm (tức thu nhập dưới 6triệu đồng/người/năm mới được coi là nghèo). Một Phó GĐ Sở này đã đánh giá một cách lạc quan : “TP.HCM đã cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chí hiện nay. Đầu những năm 1990, thành phố có hơn 20% số hộ nghèo, đến nay chỉ còn 0,15%. Trung bình mỗi năm thành phố giảm 10.000hộ nghèo”. Có tin được không khi ở thành phố đắt đỏ nhất nước này, số hộ đuợc xếp hạng nghèo chưa đến 1% và chỉ cần thu nhập hơn 500.000đ/người/tháng thì sẽ được coi là KHÔNG NGHÈO ? Bởi, nếu chỉ kể riêng cuộc sống của những người phụ nữ thôi, sẽ thấy KHỎANG CÁCH giữa họ thật là cách xa – nhiều lần hơn con số 10 – đến nỗi chẳng biết gọi tên “cái khỏang giữa” (thu nhập trên 6triệu đồng/người/năm) ấy là gì….?

1/ Chị B. vẫn là một người nghèo, dù mỗi ngày ngồi trên lề đường bán các lọai tất chân và găng tay, chị kiếm được trên dưới 100.000đ ! Thì cứ nhìn chị sẽ thấy. Dù cho chiếc nón lá lúc nào cũng ngự trị trên đầu chị, gương mặt chị vẫn đen xạm vì ngồi suốt ngày dưới hàng hiên của một cửa hàng bán…vàng bạc đá quý. Người đàn bà cao nhòng, ốm nhom, gương mặt góc cạnh…là chị lúc nào trông cũng tất bật, ngay từ dáng ngồi lom khom. Ngộ một điều là chị vẫn chưa quên mình là phụ nữ, áo lúc nào cũng dài tay, lại còn lớp trong lớp ngòai ; chân lúc nào cũng đi tất (như một kiểu quảng cáo cho món hàng chị đang bán ?) dù chị mang dép kẹp quanh năm ngày tháng.

Trong những câu chuyện không đầu không đuôi của chị mỗi lần tôi ghé đến mua hàng, tôi thấy chị đặt niềm tin tuyệt đối vào “số trời” : mỗi người có số sướng khổ khác nhau, bởi giờ sinh tháng đẻ khác nhau. Tuy nhiên, chị tin rằng nếu mình ăn ở hiền lành, nhân hậu, thế nào trời cũng ngó lại khiến mình bớt khổ. Niềm tin đó làm chị vui sống.  Ông chồng bỏ theo vợ nhỏ khi hai đứa con còn nhỏ dại, chị chưa kịp lấy lại thăng bằng thì “bà nhỏ” xuất hiện, đem hai đứa con “cho chị” vì cha của nó đã đi theo người đàn bà khác. Chị vừa nuôi con mình, vừa nuôi con riêng của chồng – năm mẹ con sống chen chúc trong ngôi nhà liêu xiêu của mẹ chị. Thoắt rồi cũng mười mấy năm. Giờ thì đứa con gái lớn đã ra đường cùng phụ buôn bán với chị, mấy đứa nhỏ còn lại đang đi học.

Điều chị vui nhất là hai đứa con trai riêng của chồng chị rất có hiếu với “mẹ lớn” : chăm lo học hành, thời gian rảnh còn kiếm việc làm thêm để phụ với chị. Mỗi ngày ngồi ở lề đường, nhìn những phụ nữ khác ra vào mua sắm nữ trang, tôi hỏi chị có buồn không, chị lắc đầu : “Thì giờ đâu mà buồn? Chỉ buồn nhất là khi có chiến dịch dẹp sạch lòng lề đường, hai mẹ con phải bán chui khổ lắm !”.

2/ Khác với sự vất vả ngòai đường của chị B., M. và N. là người con gái khá xinh, có cửa hàng bán đồ lót trên một con đường nhỏ của Q.1. M. trông cứng cỏi, mạnh mẽ, còn N. – yểu điệu thục nữ. Trừ vài ngày tết cổ truyền, ngày nào họ cũng mở cửa hàng, kể cả chủ nhật và ngày lễ. Hỏi sao không đi chơi ? Cả hai chỉ cười. Thỉnh thỏang ở cửa hàng có sự xuất hiện của hai đứa nhỏ – cháu gọi M. và N. bằng cô ruột.

Nhiều năm mua hàng rồi trở thành thân, tôi hỏi N. : “Sao hai chị em không lấy chồng ? Kén chọn gì dữ thế?”. N. mới nói thật : “Hai đứa lấy chồng rồi ai nuôi hai đứa nhỏ, nuôi ông bà già và một thằng em…khờ?”.Thì ra vậy. Gánh nặng phải chăm lo cho những người thân đang oằn lên vai họ. Em trai của M. và N. hỗi lẫm chẫm biết đi đã bị rớt ba lần từ trên gác xép xuống nền nhà…đến chấn động thần kinh, trở thành người chậm phát triển, không có khả năng đi học và làm việc. Anh trai của M. và N. bị tai nạn giao thông chết đột ngột, chị dâu bỏ đi lấy chồng, giao hai con còn nhỏ cho hai người cô. Không còn sự lựa chọn nào khác, cả hai chị em quyết tâm…quên nghĩ đến chuyện riêng, hai người sống vì….5 người !

Nhiều năm buôn bán siêng năng, lại tằn tiện, họ tích được số vốn kha khá đủ để mua lại cửa hàng đang thuê. Họ không nghèo, nhưng giàu thì…vẫn còn xa, bởi buôn bán ngày càng bị cạnh tranh, mức lời ngày càng thấp, còn hai đứa nhỏ thì vẫn chưa qua hết tiểu học !

Thỉnh thỏang ghé qua cửa hàng lúc không có khách, nhìn vẻ buồn rầu trên gương mặt N. và vẻ lo lắng của chị M., tôi cứ tự hỏi : “Cả hai đã lần nào được…yêu và được người yêu tặng quà, đưa đi chơi trong các ngày lễ chưa?”. Không bị nỗi ám ảnh phải kiếm tiền như chị B., nhưng M. và N. vẫn không có được sự thanh thản để lo cho bản thân mình….

3/ Tôi lại nhìn thấy nhiều phụ nữ khác, vừa giàu có, vừa thanh thản. Họ hiện diện nhan nhãn trong các trung tâm thương mại (TTTM) ở thành phố này. Diamond (Lê Duẩn, Q.1) – một TTTM được coi là sang trọng nhất thành phố – là nơi có nhiều phụ nữ như vậy lui tới thường xuyên. Một lần tôi đến đây nhằm lúc Diamond đang có chương trình khuyến mãi bốc thăm trúng thưởng. Điều kiện là cứ mua 300.000đ sẽ được một trái banh trong đó có một lá thăm may mắn. Thế mà cái bàn bốc thăm không ngớt người lui tới. Một phụ nữ ngòai 40 dắt theo một đứa con trai khỏang mười mấy tuổi bước tới đưa các hóa đơn tính tiền để đổi lấy banh và tôi không thể tin vào mắt mình. Nhân viên phụ trách đổ ra cho chị gần 40 trái banh may mắn ! Thật ra cũng đâu có gì lạ. Nơi đây tập trung rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng, nơi bạn không thể mua được một cái bóp đầm hàng hiệu với giá dưới 100USD, còn muốn kiếm lọai cao nhất – thì có Cartier, với những bóp đầm giá trên 1.000USD ! Có lần ghé đến gian hàng Orume tầng hai – nơi chuyên bán các lọai áo dệt kim của Hàn Quốc (sản xuất tại VN), khi cầm đến cái áo dệt kim nữ có thêu hình con hổ rất đẹp hỏi giá, tôi tưởng mình nghe lầm khi người bán trả lời : “10 triệu đồng !”. Tôi hỏi lại lần nữa. Người bán khẳng định : “Áo dệt bằng len cashmere nên giá đắt lắm !”. Người phụ nữ nào sẽ trở thành chủ nhân của chiếc áo này ?

4/ Theo thống kê của công ty Golden Asset  – công ty quản lý TTTM Diamond (DDS) – doanh số mua sắm ở đây tăng hàng năm.  Cụ thể trong dịp tết Giáp Thân vừa qua, doanh số mua sắm tăng 20% so với tết Quí Mùi và tăng 30% so với các thời gian khác trong năm. 90% số lượng người mua sắm ở đây là người VN. Giới trẻ (25-30tuổi) đến mua sắm thường xuyên, còn chiếm doanh số cao nhất mỗi lần mua lại thuộc về những người phụ nữ ngòai 30 – trên 40tuổi. Số tiền mua sắm bình quân trên một hóa đơn ở đây thuộc lọai cao nhất thành phố : 1triệu đồng/lần. Trong đó, có không ít hóa đơn mua sắm nữ trang bằng đá quý trị giá vài ngàn đô la Mỹ/lần. Kỷ lục mua sắm ở đây….cũng thuộc về một phụ nữ VN : 80triệu đồng/ngày !

Đừng tưởng giá vàng lên mà người ta ngừng mua sắm nữ trang bằng vàng. Thống kê ở công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) cho thấy trong ngày lễ Tình Yêu (14/2) vừa qua, doanh số mua sắm nữ trang tăng rất cao so với ngày thường : tăng 96% (nữ trang vàng) – tăng 185% (nữ trang bạc).Còn so với ngày 14/2 năm 2003, doanh số nữ trang tăng 38% (vàng) – tăng 31% (bạc). Cũng theo phân tích của công ty này, phần đông phụ nữ có xu hướng mua sắm nữ trang vàng có gắn đá quý hoặc bán quý, và với những vị khách thường xuyên thì số tiền mua nữ trang lần sau đều cao hơn lần trước. Làm đẹp bằng trang sức vàng trong những ngày lễ Tình yêu hoặc 8/3 còn đồng nghĩa với chuyện…có người mua tặng, đồng nghĩa với việc họ đang hạnh phúc !

Khi nhìn những phụ nữ tay trong tay cùng người yêu hay chồng đến cửa hàng PNJ lựa chọn nữ trang hay nhìn họ thong dong dạo chơi trong những quầy hàng sang trọng ở Diamond, tôi lại nhớ đến gương mặt đen xạm của chị B. hoặc vẻ chịu đựng của hai chị em M. và N. Cả ba đâu có cơ hội để đến những chỗ này ? KHỎANG CÁCH giữa những người phụ nữ với nhau, không chỉ ở chỗ họ giàu hay nghèo mà còn ở chỗ…họ có cơ hội để sống cho riêng mình hay không !

Thanh Thủy

(Đã đăng báo Phụ Nữ TP HCM ngày 8/3/2004)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.